Di tích lịch sử

Xem dạng bản đồ Lào Cai

Đình Chiềng Ken Lào Cai

Nằm trong quần thể di tích lịch sử đền Quốc gia Bảo Hà của tỉnh Lào Cai, Đền Ken (Chiêng Ken, Văn Bàn, Lào Cai) nổi tiếng bởi vẻ tôn nghiêm, cổ kính với những chứng tích còn nguyên giá trị. Đền Ken tọa lạc trên đỉnh đồi Pù Đình, cao hơn 180m, giữa lòng thôn Ken với khu đất rộng trên 10.000m2. Theo ký ức từ những vị cao niên, do lợi thế về điểm cao, lại có tầm quan sát rộng, nên thời thuộc Pháp, các quan binh thực dân đã chọn nơi này là điểm "chốt giữ" cả 4 thôn: Ken, Chiềng, thôn Bô, thôn Bẻ xung quanh bán kính 4 km. Tuy nhiên, bọn chúng không giữ đồn được lâu trước phong trào đấu tranh và sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của quân Cách mạng (thời đó gọi là Việt Minh), bọn thực dân đã phải rút chạy, trả lại cuộc sống bình yên cho nhân dân địa phương. Từ đó, tính linh thiêng của ngôi đền càng được nhân dân tôn thờ, bởi địch chốt giữ nơi này càng đánh càng thua. Theo tích xưa, Đền Ken thờ ông Nguyễn Hoàng Long và các vị tướng lĩnh dòng họ Nguyễn đã có công đánh đuổi giặc và khai khẩn lập làng xã tại châu Văn Bàn. Nhân dân trong vùng nhớ tới công lao của ông và các tướng lĩnh dòng họ Nguyễn đã tôn thờ, lập đền thờ tại nơi đây. Do Đền được đặt trên ngọn đồi cao nhất làng nên còn được nhân dân gọi là đình Ken. Qua thời gian với những biến cố thăng trầm của lịch sử và các cuộc chiến tranh đã khiến Đền Ken bị tàn phá nhiều lần, có lúc tưởng chừng như không còn dấu tích. Ngày nay đường lên Đền đã được nhân dân địa phương mở mang. Các phương tiện giao thông hiện đại như ô tô, xe máy vào được tận nơi, rất thuận lợi cho du khách đến thăm viếng. Với sự linh thiêng huyền bí được người dân truyền miệng và cảnh trí đẹp Đền Ken ngày càng được nhiều người biết đến và thu hút ngày càng nhiều khách thập phương đến viếng, lễ bái. Hàng năm cứ vào ngày 7 tháng 01 âm lịch, tỉnh Lào Cai tổ chức tế Lễ Đền Ken để tưởng nhớ đến công lao của ông Nguyễn Hoàng Long và các chư vị. NGUỒN: Du lịch Việt Nam

Lào Cai

3410 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đền Mẫu Trịnh Tường

Đền Mẫu Trịnh Tường là nơi thờ Thánh Mẫu Thượng ngàn - Thánh Mẫu thứ hai trong Tam tòa Thánh Mẫu, cai quản nhạc phủ, tức là cai quản vùng rừng núi, trấn giữ biên ải. Bà Trần Thị Thanh, thủ nhang đền Mẫu Trịnh Tường cho biết: Đền được xây dựng từ đầu thế kỷ XX và được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh năm 2016. Trong những năm qua, huyện Bát Xát đã huy động nhiều nguồn lực để trùng tu, tôn tạo di tích, đồng thời quản lý tốt các hoạt động lễ hội. Từ ngôi đền chính là căn nhà cấp 4 nhỏ làm nơi thờ tự, đến nay đền Mẫu Trịnh Tường đã được mở rộng với các hạng mục: Nhà đền chính, nhà sắp lễ, am hóa vàng, nhà hữu vu, cổng tam quan, hồ bán nguyệt… Bước vào đền Mẫu Trịnh Tường, khách tham quan cảm nhận được không gian tĩnh lặng, yên bình với khói nhang phảng phất, tiếng chim hót líu lo trên những tán cây cổ thụ. Mặc dù đã qua các thời kỳ tu sửa nhưng du khách vẫn được ngắm nhìn những kiến trúc cổ kính còn sót lại trên từng viên gạch, mái ngói hoặc các pho tượng thờ sơn son thiếp vàng mang dáng vẻ uy nghi, tráng lệ. Hằng năm, cứ đến ngày 10/3 âm lịch sẽ diễn ra Lễ hội đền Mẫu Trịnh Tường để cầu cho một năm mưa thuận, gió hòa, mùa màng tươi tốt, quốc thái, dân an. Lễ hội được tổ chức trang trọng, đúng tín ngưỡng thờ Mẫu Thượng ngàn; khai thác được những giá trị văn hóa truyền thống, tạo nên hoạt động văn hóa, tín ngưỡng dân gian đa sắc màu, hấp dẫn và phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. nguồn “Báo Lào Cai điện tử

Lào Cai

3496 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Đền Đồng Ân

Đền Đồng Ân là di tích có lịch sử lâu đời, đến nay vẫn còn nền móng của ngôi đền cổ cho thấy nơi đây đã từng được xây dựng rất quy mô, trong đó có gạch từ thời Lê (cuối thế kỷ XVIII) và một số hiện vật có niên đại trên 100 năm đang lưu giữ tại đền. Đồng Ân là tên gọi có từ xưa với ý nghĩa là nhân dân đồng lòng biết ơn vị tướng Hưng Đạo Đại vương - Trần Quốc Tuấn, người đã có công trong cuộc chiến đánh đuổi giặc ngoại xâm Nguyên - Mông. Ngoài ra, đền còn được người dân địa phương biết đến với tên gọi khác là đền Mi do trước đây gắn với tên gọi của địa danh thôn Mi. Trải qua thăng trầm biến động lịch sử gắn với mảnh đất Bảo Thắng anh hùng qua nhiều thế kỷ, đến nay Đền vẫn tọa lạc trên cánh đồng thuộc thôn Quyết Tâm, xã Thái Niên huyện Bảo Thắng. Với vị trí chiến lược nằm ven sông Hồng, thuộc cửa quan Bảo Thắng xưa kia, ngôi đền vừa là cột mốc văn hóa tâm linh đánh dấu chủ quyền lãnh thổ vùng biên ải vừa là một trong những nơi hoạt động cách mạng bí mật của quân dân Bảo Thắng trong các thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Đền Đồng Ân chính là nơi thờ Đức Thánh Trần tức Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Trong ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông, ông đã dùng tài thao lược của mình để lãnh đạo quân dân khắp nơi đồng trí đồng lòng bảo vệ giang sơn đất nước. Trong đó không thể nhắc tới vùng đất Quy Hóa (Lào Cai ngày nay), nơi địa đầu Tổ Quốc có cửa quan Bảo Thắng là một trong những điểm trọng yếu mà giặc phương Bắc đều nhắm tới mỗi lần xâm lược nước ta. Vì thế trong suốt cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm phương Bắc, Bảo Thắng luôn là vị trí trọng yếu của quân ta trên bản đồ chiến lược. Trong 3 lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông, dưới sự lãnh đạo tài ba của Trần Hưng Đạo, quân và dân vùng Quy Hóa đã tích cực phòng thủ cửa quan, chặn đánh quân giặc ngay từ cửa ngõ biên giới góp phần vào chiến thắng chung của nhân dân cả nước. Để tưởng nhớ công ơn của những tướng sĩ đã cùng nhân dân chống giặc ngoại xâm và sự lãnh đạo tài ba của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, nhân dân khắp nơi cùng nhau lập đền thờ để bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đó. Ở thành phố Lào Cai có Đền Thượng là ngôi đền thờ Ông được xây dựng từ thế kỷ XVII, do nhân dân địa phương xây dựng để thờ phụng, hàng năm đón nhiều lượt du khách trong và ngoài nước đến hành lễ và vãn cảnh. Tuy chưa xác định được chính xác niên đại của ngôi đền Đồng Ân nhưng căn cứ vào kết quả đào khảo sát khảo cổ nền móng đền Đồng Ân cho thấy vật liệu xây dựng đền có sớm nhất từ thời Lê (thế kỉ XVIII). Do vậy, có thể nói đền Đồng Ân là ngôi đền tuy có sau đền Thượng nhưng đây cũng là một trong những di tích thờ Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn và có nhiều ý nghĩa tâm linh đối với người dân Bảo Thắng nhiều đời nay. Đến nay, nhân dân vẫn lưu truyền “Vùng đất này trước kia là cánh đồng rộng mênh mông, cây cỏ mọc um tùm lại ven sông Hồng, năm ấy giặc phương Bắc tràn xuống xâm lược, tướng lĩnh nhà Trần lên dẹp giặc vùng biên ải, trong khi giao tranh đã bị thương sau đó về đến khu đất của đền thì dừng lại dưỡng thương. Sau đó, người dân chỉ thấy còn lại bộ áo giáp mà không thấy xác nên đã lập lên ngôi đền để để tưởng nhớ công ơn đánh giặc của vị tướng đó”. Với những giá trị lịch sử năm 2016 Đền Đồng Ân đã được UBND tỉnh công nhận là di tích lịch sử - Văn hóa cấp tỉnh. Đền Đồng Ân có vị trí thuận lợi, tọa lạc ngay gần bờ sông Hồng, hướng đền trông ra sông với phong cảnh sơn thủy hữu tình, trong tương lai sẽ phát triển thành điểm du lịch tâm linh thu hút được nhiều khách du lịch khi đến với Lào Cai nói chung và huyện Bảo Thắng nói riêng. Trong thời gian tới Đền Đồng Ân sẽ là một điểm sáng trên bản đồ du lịch tâm linh của tỉnh Lào Cai khi được kết nối với các điểm di tích khác trong huyện như chùa Liên Hoa ở xã Phong Niên, đền Ngòi Bo ở xã Gia Phú đều là những di tích nằm ven sông Hồng. Cùng với hệ thống các Đền linh thiêng của tỉnh Lào Cai tọa lạc dọc theo tả ngạn Sông Hồng như Đền Thượng, Đền Mẫu, Đền Cấm, Đền Quan, Đền Đôi Cô... Đây là những địa chỉ du lịch tâm linh thu hút hàng vạn lượt khách tham quan, chiêm bái, hành lễ các dịp trong năm. Trong đó có nhiều di tích nổi tiếng khắp vùng, miền. Bên cạnh đó, với truyền thống cách mạng của một huyện anh hùng, Bảo Thắng còn có nhiều điểm thăm quan giới thiệu về lịch sử của địa phương trong các giai đoạn kháng chiến đóng góp vào thắng lợi chung của cả nước như khu căn cứ cách mạng Soi Cờ - Soi Giá; Đồn Phố Lu, tiếp đó là động Tiên đẹp nổi tiếng ở xã Xuân Quang, thác Đầu Nhuần ở xã Phú Nhuận với nhiều thác nước đẹp, hoang sơ và chưa chịu tác động của con người. Đó là điểm đến thú vị của những người thích trải nghiệm, khám phá… Khi kết nối Đền Đồng Ân với những điểm di tích – danh thắng nói trên sẽ hình thành nên các điểm, tuyến du lịch thu hút du khách đến với huyện Bảo Thắng, tạo thành hướng đi mới trong phát triển kinh tế du lịch tại địa phương nói riêng và của cả tỉnh Lào Cai nói chung. NGUỒN: SỞ DU LỊCH TỈNH LÀO CAI

Lào Cai

3461 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Địa điểm lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nằm ngay trung tâm thành phố Lào Cai, di tích Địa điểm lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lào Cai thường được mọi người biết đến với tên gọi “Công viên Hồ Chí Minh”, thuộc địa phận phường Lào Cai, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Khu di tích là địa danh tưởng niệm, ghi dấu chuyến thăm duy nhất của Bác Hồ cùng phái đoàn chính phủ với Đảng bộ và nhân dân Lào Cai. Vị trí di tích được đặt trên nền Nhà máy điện Lào Cai cũ, nơi Bác đã dành thời gian đến thăm hỏi, động viên công nhân tại công trình Nhà máy điện đang xây dựng sắp sửa hoàn tất. Trong bộn bề khó khăn của đất nước dù bận trăm công nghìn việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành thời gian về thăm và làm việc với Đảng bộ và nhân dân Lào Cai vào ngày 23-24/9/1958. Ghi nhớ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và trân trọng những tình cảm quý báu của Người với quê hương Lào Cai, nhân dịp kỷ niệm tròn 40 năm Bác Hồ đến thăm Lào Cai (1958-1998), UBND tỉnh Lào Cai xây dựng công trình khu lưu niệm Bác Hồ. Năm 2022, Địa điểm lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lào Cai đã được Bộ Văn hóa công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia. Đây là công trình tâm linh để nhân dân, du khách gần xa có dịp bày tỏ lòng biết ơn, niềm thành kính, dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Bên cạnh đó, Khu tưởng niệm còn là "địa chỉ đỏ" giáo dục cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau về lịch sử dân tộc, về thân thế, sự nghiệp vĩ đại của Người. Nơi đây, luôn mở cửa đón nhân dân cả nước đến tham quan và tỏ lòng thành kính, biết ơn Hồ Chủ tịch. NGUỒN: SỞ DU LỊCH TỈNH LÀO CAI

Lào Cai

3477 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đồn Bắc Hà

Đồn Bắc Hà nằm ngay trung tâm thị trấn Bắc Hà, được xây trên một quả đồi cao bao quát toàn bộ khu vực thị trấn Bắc Hà. Đây là một công trình đồn trú quân sự có quy mô lớn, được xây dựng theo hình xoắn ốc từ thấp lên cao, tường rào bằng dây thép gai bên ngoài cùng, tiếp đến là lớp tường thành bảo vệ bao quanh đồn có nhiều chòi canh gác cùng lối ra vào. Bên trong đồn có nhiều đơn nguyên kiến trúc với chức năng khác nhau, hình thành nên hệ thống khép kín bên trong nhằm phục vụ quân Pháp khi chiếm đóng tại Bắc Hà. Trước khi Bắc Hà được giải phóng, thực dân Pháp đã đốt đồn Bắc Hà rồi rút chạy khiến cho ngày nay di tích lịch sử này không còn được nguyên vẹn. Hiện tại, các công trình thuộc Đồn Bắc Hà đã bị phá hủy hầu hết, chỉ còn lại một phần trong số các công trình đó như: lô cốt, bể nước ba ngăn ở trung tâm đỉnh đồi; một đường hầm ở phía Nam di tích và hệ thống kè móng bao quanh Đồn. Các công trình này chỉ còn phần tường, hệ thống mái và nền không còn. Một số công trình chỉ còn lại dấu tích của nền móng như: nhà Quan Ba, chuồng ngựa, nhà lính. Ngày nay, với việc được xếp hạng là di tích lịch sử cấp tỉnh, đồn Bắc Hà hứa hẹn sẽ tạo ra một điểm thu hút du khách tham quan, tìm hiểu về lịch sử chống giặc ngoại xâm của ông cha ta ngày xưa khi đến tham quan Cao nguyên trắng Bắc Hà. NGUỒN: SỞ DU LỊCH TỈNH LÀO CAI

Lào Cai

3138 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Thác Bạc

Tỉnh Lào Cai vừa xếp hạng Thác Bạc, tổ dân phố 2, phường Ô Quý Hồ, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai là di tích danh lam thắng cảnh cấp tỉnh. Ủy ban nhân dân tỉnh vừa ban hành văn bản số 3415/QĐ-Ủy ban nhân dân ngày 31/12/2023 xếp hạng Thác Bạc là di tích danh lam thắng cảnh cấp tỉnh Theo đó, khu vực bảo vệ di tích được xác định theo Biên bản khoanh vùng các khu vực bảo vệ di tích và Bản đồ khoanh vùng các khu vực bảo vệ di tích trong hồ sơ khoa học di tích. Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai giao Sở Văn hóa và Thể thao, Ủy ban nhân dân thị xã Sapa xây dựng phương án bảo vệ, quản lý, tu bổ và sử dụng di tích danh lam thắng cảnh Thác Bạc theo đúng quy định hiện hành của nhà nước. Danh thắng Thác Bạc thuộc Tổ dân phố số 2, phường Ô Quý Hồ, thị xã Sa Pa là một trong những địa điểm du lịch hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước (mỗi năm đón trên 45.000 lượt du khách). Thắng cảnhThác Bạc được biết đến từ thế kỷ XX, thời kỳ Pháp thuộc cùng với các địa điểm du lịch, nghỉ dưỡng nổi tiếng: Thác Bạc, Cầu Mây, Hang Đá. Đến năm 2011, tỉnh Lào Cai đầu tư xây dựng hồ thuỷ lợi Thác Bạc chứa nước thượng nguồn và điều chỉnh đảm bảo lượng nước quanh năm và tạo cảnh quan, vẻ đẹp hùng vĩ cho thác. Nhìn từ xa, Thác Bạc trông như một dải lụa mềm mại, bạc trắng vắt ngang trời, khi lại gần dòng thác đổ ào ào giống như con Bạch Long đang vươn mình gầm vang giữa đất trời hết sức hùng vĩ. Trải qua quá trình thăng trầm của lịch sử, biến đổi của khí hậu nhưng đến nay Thác bạc vẫn là địa điểm đẹp, hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước, đáp ứng đầy đủ các tiêu chí và được Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai xếp hạng là di tích danh lam thắng cảnh cấp tỉnh./. NGUỒN: Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai

Lào Cai

3309 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Hang động Tả Phìn

Di tích quốc gia – danh lam thắng cảnh Hang động Tả Phìn nằm ở xã Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, cách thị trấn Sapa 12km chếch về phía Bắc, đây là nơi có hai dân tộc Dao và Mông sinh sống, cũng là nơi có nhiều giá trị nghiên cứu, khảo cổ, và thu hút nhiều du khách đến tham quan du lịch. Tới Sapa, du khách muốn ghé thăm quan Hang động Tả Phìn, du khách sẽ đi qua thị trấn xuống bản Tả Phìn, cách trụ sở UBND xã Tả Phìn gần 1km về phía Bắc có dãy núi đá vôi, là một nhánh núi của dãy núi Hoàng Liên Sơn. Trong dãy núi này có một quả núi nhỏ, dưới chân núi du khách nhìn thấy một vết nứt xuất hiện một cửa hang, chiều cao khoảng 5m, rộng khoảng 3m, mở ra một lối đi xuyên xuống đất, thu hút sự tò mò của du khách đến nơi đây khám phá hang động. Bắt đầu chuyến hành trình khám phá xuyên xuống lòng đất, du khách đi khoảng hơn 30m trong tối tăm, gập ghềnh sẽ gặp một hang động. Từ đây, động chia thành rất nhiều ngả chúc xuống lòng đất chỉ vừa một người chui lọt, nhiều đoạn cheo leo phải bám vào những tai đá, đu người mà lên xuống. Đi theo những vách nhỏ này càng tỏa ra nhiều lối, thậm chí có những ngách đi vòng vèo, rích rắc và cuối cùng vẫn trở về vị trí ban đầu. Để tiếp tục hành trình khám phá hang động, du khách đi theo đường của vách lớn, ở đây du khách có được cảm giác như đang xuyên lên vách núi, đường đi ngoằn nghèo, lúc lên lúc xuống, chỗ phình to chỗ giống người thiếu phụ đang bồng con, chỗ giống các nàng tiên đang tắm, chỗ giống mâm xôi khổng lồ với những mảng nham thạch xù xì phớt trắng, những mảng san hô bám viền xung quanh, có chỗ giống như những dãy cột nhà trắng mịn buông từ trên nóc xuống… Đặc biệt, chỗ rộng nhất lòng động trên vòm cao khoảng 8m, tạo điều kiện cho các nhũ đã rủ xuống, đan xen vào nhau không theo một thứ tự sắp xếp nào, uốn lượn, nhấp nhô, long lanh màu ngọc bích, có những giọt nước từ đỉnh núi thấm dần rồi đọng lại nơi chóp của nhũ đá thánh thót nhỏ giọt, như điểm từng nhịp trong không gian hư ảo. NGUỒN: Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai

Lào Cai

3378 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Thành cổ Nghị Lang

Thành cổ Nghị Lang Thành cổ Nghị Lang hay còn gọi là đền Phúc Khánh nằm ở thung lũng Phố Ràng, thuộc huyện Bảo Yên, Lào Cai, được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 2002. Thành cổ Nghị Lang là điểm linh thiêng thờ các vị Chúa Bầu, mang dấu tích oanh liệt hùng cứ một phương chống nhà Mạc, bảo vệ biên cương của các chúa Bầu bảo vệ nhân dân, bảo vệ đất nước. Lễ hội thờ cúng Chúa bầu diễn ra ngày 10/1 âm lịch hàng năm, nhân dân tụ họp lại để tưởng nhớ công ơn bảo vệ nước của các vị chúa Bầu. NGUỒN: Du lịch Việt Nam

Lào Cai

2422 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Bảo Hà

Đền Bảo Hà Nhắc đến huyện Bảo Yên thì không ai không biết đến đền Bảo Hà, một trong những địa chỉ thu hút khách thập phương đông nhất của huyện này. Đền Bảo Hà thờ thần vệ quốc Hoàng Bẩy, một vị anh hùng miền sơn cước đánh giặc giữ buôn làng. Đền Bảo Hà rất uy nghi, tĩnh mặc, phong cảnh thiên nhiên nơi đây lại hữu tình: trên bến, dưới thuyền, còn xung quanh là núi rừng bao la, rộng lớn một màu xanh mướt. Hội chính đền của Bảo Hà được tổ chức ngày 17 tháng 7 âm lịch hàng năm – tức ngày giỗ tướng Hoàng Bảy, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài vùng đến tham dự. Trong lễ hội này có tổ chức rước kiệu, tế thần, dâng hương tưởng niệm, cùng các hoạt động văn hoá - thể thao mang đậm chất lễ hội văn hóa Việt Nam. Những ngày thường - đặc biệt là vào mùa xuân khách thập phương trong cả nước vẫn thường xuyên tụ họp tại đây để thắp hương tưởng niệm, cầu an, cầu lộc, làm không khí ở đền vui tươi hẳn lên.

Lào Cai

2450 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đỉnh Fansipan

CTTĐT - UBND tỉnh Lào Cai vừa ban hành văn bản số 1396/QĐ-UBND ngày 7/6/2024 Quyết định xếp hạng Khu vực đỉnh Fansipan là di tích danh lam thắng cảnh cấp tỉnh. Theo đó, UBND tỉnh Lào Cai xếp hạng Khu vực đỉnh Fansipan, xã Hoàng Liên, thị xã Sapa, tỉnh Lào Cai là di tích danh lam thắng cảnh cấp tỉnh. Khu vực bảo vệ di tích được xác định theo Biên bản khoanh vùng các khu vực bảo vệ di tích và Bản đồ khoanh vùng các khu vực bảo vệ di tích trong hồ sơ khoa học di tích. UBND tỉnh giao cho Sở Văn hóa và Thể thao, UBND thị xã Sapa xây dựng phương án bảo vệ, quản lý, tu bổ và sử dụng di tích danh lam thắng cảnh Khu vực đỉnh Fansipan theo đúng quy định hiện hành của nhà nước. Khu vực đỉnh Fansipan, thôn Sín Chải, xã Hoàng Liên, thị xã Sa Pa là khối núi cao nhất trên dãy Hoàng Liên Sơn, có biệt danh “Nóc nhà Đông Dương” với độ cao 3.143m, hình thành cách ngày nay khoảng 260-250 triệu năm. Năm 1905, đoàn khảo sát người Pháp đã tổ chức thám hiểm và đặt mốc tiêu đầu tiên trên khu vực đỉnh Fansipan để thiết lập tọa độ của các điểm trắc địa trong khu vực. Từ đây, Fansipan xuất hiện trong bản đồ và tư liệu của người Pháp ghi chép về Sapa, trở thành một địa điểm du lịch cho những người ưa thích phiêu lưu, mạo hiểm. Khu vực đỉnh Fansipan trở thành thương hiệu du lịch Sa Pa, được đông đảo du khách trong nước, du khách quốc tế biết đến và mong muốn chinh phục NGUỒN: Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai

Lào Cai

2528 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Động Thiên Long

Thiên Long, xã Tả Ván Chư, huyện Bắc hà, tỉnh Lào Cai đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia tại Quyết định số 3578/QĐ-BVHTTDL, 3579/QĐ-BVHTTDL ngày 18/10/2013. Danh lam thắng cảnh Động Thiên Long, xã Tả Van Chư, huyện Bắc Hà, thường được người địa phương gọi là “Hang Rồng”. Động Thiên Long nằm sâu trong lòng Núi Rồng, ở độ cao trên 1000m so với mực nước biển, còn giữ được vẻ đẹp nguyên sơ, kỳ bí với nhiều tầng lớp thạch nhũ lớn, kỳ vĩ. Tổng chiều dài của động khoảng 470 m, được chia làm 3 tầng khác nhau, mỗi tầng có một đặc thù riêng. Tầng một có chiều dài khoảng 115m, mặt bằng rộng, nền được tạo thành bởi những tảng đá lớn, bao phủ lên là một lớp đất trầm tích màu đen, xốp, vòm hang của tầng 1 cao thoáng (khoảng 8m - 10m) trên đó có những mảng nhũ đá lớn, các mảng thạch nhũ được thiên nhiên kiến tạo với nhiều hình thù đa dạng phong phú, vách động với những lớp thạch nhũ bám vào thành, trải qua thời gian dài kiến tạo, đã làm nên những bức tranh thủy mặc trong sáng, mờ ảo. Tầng hai của động có chiều dài ngắn hơn tầng một, nhưng có lượng nhũ đá nhiều hơn và phong phú hơn về hình dáng, kích cỡ và màu sắc, tầng 2 có nền bằng phẳng, lòng hang rộng vòm cao nên đi lại thuận lợi. Tầng ba của động dài và có độ dốc khá lớn, lòng hang rộng có nhiều thạch nhũ hình thù khác nhau, toàn bộ tầng 3 giống như một cái túi lớn, đặc biệt ở đây có lớp trầm tích phủ dầy lên nhau. Khu vực bảo vệ di tích được xác định theo biên bản và bản đồ khoanh vùng các khu vực bảo vệ di tích trong hồ sơ. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch yêu cầu UBND các cấp nơi có di tích được xếp hạng trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý Nhà nước đối với di tích theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa. NGUỒN: Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai

Lào Cai

2368 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Ruộng bậc thang Sa Pa

Ruộng bậc thang Sa Pa thuộc xã Lao Chải, xã Tả Van, xã Hầu Thào, huyện Sa Pa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia tại Quyết định số 3578/QĐ-BVHTTDL, 3579/QĐ-BVHTTDL ngày 18/10/2013. Di tích quốc gia - danh lam thắng cảnh Ruộng bậc thang Sa Pa nằm ở thung lũng Mường Hoa, cách thị trấn Sa Pa gần 10 km về phía Tây Nam. Đây là quần thể ruộng bậc thang lớn nhất Việt Nam, rộng 935,4 ha, thuộc địa bàn các xã Lao Chải, Tả Van, Hầu Thào huyện Sa Pa. Năm 2009, Tạp chí Du lịch Travel and Leisure của Mỹ đã bình chọn danh thắng Ruộng bậc thang Sa Pa nằm trong top 7 ruộng bậc thang đẹp kỳ vĩ nhất châu Á và thế giới. NGUỒN: Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai

Lào Cai

2250 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Ngòi Bo

Đền Ngòi Bo nay thuộc xã Thống Nhất, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Hướng trông ra ngã ba sông – nơi giao thủy của suối Ngòi Bo và sông Hồng, ngôi đền là nơi thờ phụng Tản Viên Sơn Thánh – một trong Tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt, “là vị thần linh thiêng bậc nhất của trời Nam”. Theo lời kể của các bậc lão niên, những người quê gốc miền xuôi trong thôn khi đến đây và gắn bó với vùng đất này đã dựng miếu, đền thờ phụng Đức Thánh Tản Viên – vị Thánh được tôn thờ ở khắp vùng trung du và châu thổ Bắc Bộ với niềm tin kiền thành vào sự phù hộ, che chở của Ngài. Sự tín tưởng ấy chính là bệ đỡ, là điểm tựa tinh thần của những người con xa quê trên bước đường tạo dựng cuộc sống ở miền đất mới, đồng thời là sự nhắc nhớ, sự duy trì ký ức về quê hương bản quán, về nguồn cội cha ông. Lễ hội đền Ngòi Bo diễn ra vào ngày 11 tháng Giêng hằng năm. Đền Ngòi Bo được xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp Tỉnh năm 2016 Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Lào Cai.

Lào Cai

2829 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Di tích Lịch sử đồn Phố Ràng

Di tích Lịch sử Quốc gia đồn Phố Ràng ở thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên (Lào Cai) là chứng tích đặc biệt, nơi khắc ghi chiến thắng lịch sử hào hùng, oanh liệt của thế hệ cha ông 73 năm về trước (26/6/1949 – 26/6/2022).​ Theo Lịch sử đảng bộ huyện Bảo Yên (Lào Cai), đồn Phố Ràng được xây dựng trên cao điểm 442, diện tích rộng gần 1 ha; đây là một vị trí chiến lược, có thể khống chế toàn bộ khu vực lòng chảo thị trấn Phố Ràng và các khu vực lân cận. Thế đồn gần như 3 mặt là sông, ở vị trí đồn có thể bao quát, theo dõi toàn bộ các hoạt động ở sông và hai bên bờ. Pháp cho xây dựng một hệ thống công sự vững chắc với nhiều lô cốt, giao thông hào, hàng rào tre vót nhọn ken dày đặc quanh cứ điểm, mìn, vật cản và ụ súng được bố trí xung quanh đồn. Địch còn bố trí 2 trung đội Âu - Phi, 1 đội lính khố đỏ, 1 trung đội lính dù, 1 trung đội lính dõng, các loại vũ khí sẵn sàng đánh trả và cản bước tiến của các nhánh quân ta lên giải phóng vùng Tây Bắc. Ngày 11/06/1999 di tích đồn Phố Ràng được Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể Thao – Du lịch) công nhận là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia, theo Quyết định số 38/QĐ-BVHTT. Nguồn Bộ Văn hóa, Thể Thao – Du lịch.

Lào Cai

3081 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử Chiến thắng đồn Phố Lu

Di tích lịch sử Địa điểm Chiến thắng Đồn Phố Lu nhìn tổng thể xung quanh là núi cao, rừng rậm, vách đá dựng đứng, sông suối sâu. Có 2 cụm lô cốt là cụm gần và cụm xa. Cụm gần có 3 lô cốt: Số 1 đã bị lũ cuốn trôi năm 1971 do sạt lở. Số 2 chất liêu bê tông cáo 4,5m dài 4,5m, rộng 3,7m. Số 3 cách ga Phố Lu 900m. Cụm xa có 2 lô cốt xây trên đỉnh đồi cao khoảng 50 - 70m. Trung tâm đồn là Sở chỉ huy, nay là số nhà 244 đường Lê Hồng Phong. Ngoài ra còn có trại lính và nhiều hầm ngầm bê tông kiên cố, hiện tại chỉ còn 5 hầm. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Lào Cai.

Lào Cai

3313 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu di tích Soi Cờ, Soi Giá

Bảo Thắng là một huyện có bề dày về truyền thống cách mạng, có hệ thống di tích lịch sử khá phong phú và mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Ngày 24/7/2007, Khu căn cứ cách mạng Soi Cờ - Soi Giá thuộc xã Gia Phú đã được UBND tỉnh Lào Cai xếp hạng là di tích cấp tỉnh. Đây là một di tích đã tồn tại gần một thế kỷ, là một trong những khu căn cứ cách mạng quan trọng nằm trong vùng hoạt động rộng lớn Cam Đường - Gia Phú - Xuân Giao. Đặc biệt trong giai đoạn 1947 - 1950, Soi Cờ -Soi Giá đã gây dựng được cơ sở cách mạng khá vững chắc, được nhân dân hưởng ứng nhiệt liệt nên phong trào cách mạng dân tộc được đẩy lên cao mạnh mẽ, các đội du kích đã gây nhiều tổn thất cho quân giặc. Vì vậy chúng tổ chức đàn áp dã man giết hại nhiều cơ sở cách mạng của ta nhằm uy hiếp phong trào đấu tranh nơi đây... Khu căn cứ cách mạng Soi Cờ - Soi Giá đã ghi dấu cuộc đấu tranh cách mạng. Là một trong những di tích quan trọng và có giá trị lớn của huyện Bảo Thắng" Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Lào Cai.

Lào Cai

3178 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Khu di tích lịch sử Pú Gia Lan

Đến Văn Bàn, vào trung tâm thị trấn đã thấy núi Gia Lan hùng vĩ hiện ra trước mắt. Dưới chân núi là thung lũng trải dài, vùng đất trù mật, đông đúc. Núi Gia Lan không chỉ có vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng mà còn nổi tiếng bởi đây là khu căn cứ bí mật của quân và dân Văn Bàn trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Ngày nay, khu căn cứ này đã trở thành khu di tích lịch sử cách mạng mà người dân quen gọi là Khu du kích Pú Gia Lan. Khu du kích Pú Gia Lan được hình thành từ năm 1947 ở khu vực núi Gia Lan, xã Khánh Yên Thượng. Đây là khu căn cứ bí mật trong vùng địch do Huyện uỷ Văn Bàn chỉ đạo xây dựng, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp giải phóng huyện Văn Bàn nói riêng và tỉnh Lào Cai nói chung. Khi thực dân Pháp chiếm đóng Văn Bàn, nhân dân các xã Làng Giàng, Khánh Yên Thượng, Khánh Yên Hạ đã tản cư vào vùng núi này. Dọc theo triền núi suốt từ Làng Giàng đến xã Khánh Yên Hạ chỗ nào cũng có dân tản cư. Khu du kích Gia Lan bao gồm toàn bộ phần đất của xã Làng Giàng, một phần phía nam của các xã: Khánh Yên Thượng, Khánh Yên Hạ, Chiềng Ken. Phía Bắc giáp với xã Nậm Rạng, phía Nam giáp với xã Nậm Tha, phía Tây Bắc giáp với xã Dương Quỳ, phía Tây Nam giáp với xã Nậm Xé - Văn Bàn và một phần của Than Uyên (Lai Châu). Khu du kích Gia Lan là nơi gặp gỡ cán bộ, bộ đội, du kích để họp bàn kế hoạch thực hiện các đợt tập luyện, huấn luyện ngắn, nơi tạo điều kiện cho việc liên lạc từ Lào Cai (ngày trước) đi các vùng ngoài tỉnh. Khu di tích Pú Gia Lan là một điểm di tích cách mạng quan trọng góp phần giáo dục ý thức cách mạng cho các thệ hệ mai sau, đồng thời giữ gìn khu di tích chính là bảo vệ môi trường sinh thái. Ngày 16/11/2006, di tích được Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận là di tích cấp tỉnh. Núi Gia Lan với bức tường thiên tạo đã chứng kiến sự trưởng thành của cách mạng trên vùng quê đậm nét văn hóa dân gian, chứng kiến những thành tựu mà Đảng lãnh đạo nhân dân các dân tộc đánh Pháp, giải phóng quê hương Văn Bàn./. Nguồn : Báo điện tử tỉnh Lào Cai.

Lào Cai

2736 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Di tích lịch sử văn hoá đền Ken

Đền Ken nằm ở xã Chiềng Ken, huyện Văn Bàn từ lâu đã là địa chỉ thu hút nhiều người dân tới vãn cảnh và chiêm bái. Năm 2006, đền Ken được UBND tỉnh Lào Cai xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Từ đó đến nay, huyện Văn Bàn đã và đang triển khai các phương án trùng tu, nâng cấp ngôi đền nhằm thu hút du khách thập phương đến tham quan, chiêm bái. Lễ hội Đền Mẫu Trịnh Tường - Điểm đến du lịch tâm linh Đền Ken tọa lạc trên đỉnh đồi Pù Đình, giữa lòng thôn Ken với khu đất rộng trên 10.000 m2. Đền thờ ông Nguyễn Hoàng Long và các vị tướng lĩnh thuộc nghĩa quân Tây Sơn đã có công đánh đuổi giặc xâm lăng trên quê hương Văn Bàn, giúp nhân dân các dân tộc nơi đây khai khẩn ruộng vườn, bảo vệ bản làng. Hàng năm, cứ vào ngày mùng 7 tháng Giêng, nhân dân lại tổ chức lễ dâng hương để tưởng nhớ đến công lao của ông. Năm 2006, đền Ken chính thức được tôn tạo, xây dựng lại khang trang và được UBND tỉnh Lào Cai xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Cuối năm 2012, UBND tỉnh đã phê duyệt Dự án trùng tu di tích đền Ken để tôn tạo ngôi đền chính khang trang hơn, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân và du khách thập phương hành hương lễ bái. Để gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa tôn nghiêm của dân tộc, UBND huyện Văn Bàn đang lập hồ sơ đề nghị nâng cấp đền Ken thành Di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Đền Ken hiện đang lưu giữ nhiều di tích lịch sử có giá trị văn hoá trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cũng chú trọng tuyên truyền, vận động nhân dân giữ gìn cảnh quan môi trường, lưu giữ và phát triển các làng nghề truyền thống, bản sắc văn hóa vùng miền, tạo điểm nhấn cho du khách khi đến tham quan, trải nghiệm và lễ bái. "Trong thời gian tới, xã mong muốn nhận được sự quan tâm của các cấp các ngành, đặc biệt là Phòng văn hóa thông tin huyện để khơi dậy, gìn giữ những nét văn hóa đặc sắc của các dân tộc, từ đó giúp phát triển văn hóa du lịch tâm linh tại địa phương được tốt hơn", ông Vấn Gia Lâm, Chủ tịch UBND xã Chiềng Ken, huyện Văn Bàn cho biết. Nhờ sự quản lý chặt chẽ của các ban, ngành và chính quyền địa phương nên vấn đề an ninh trật tự, vệ sinh môi trường ở khu vực đền được đảm bảo, giữ được sự tôn nghiêm. Ông La Quốc Lưu, Thủ nhang đền Ken chia sẻ thêm: "Mọi hoạt động trong đền đều phải được Ban quản lý đền cho phép mới được thực hiện, để bảo đảm công tác tổ chức, quản lý cũng như tránh tình trạng buôn thần bán thánh tại khu vực tâm linh của nhà đền". Không chỉ là chốn linh thiêng để du khách đến dâng hương cầu an, đền Ken còn là điểm đến hấp dẫn trong hành trình du lịch tâm linh của nhiều du khách. Nguồn : Văn hóa du lịch tỉnh Lào Cai.

Lào Cai

3346 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh

Mở

Di tích nổi bật

Xem tất cả

Đền Thượng - Lào Cai

Đền Thượng Lào Cai còn có tên Thánh Trần Từ. Đền Thượng Lào Cai được xây trên đất thuộc phố Bảo Thắng, Châu Thủy Vĩ, tỉnh Hưng Hóa nay thuộc phường Lào Cai, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Đền Thượng được xây dựng vào thời Lê, niên hiệu Chính Hòa (1680 - 1705). Là nơi thờ Quốc công tiết chế Hưng Đạo Vương – Trần Quốc Tuấn, người đã có công lớn trong sự nghiệp bảo vệ bờ cõi non song đất nước. Một Danh nhân lịch sử vĩ đại, vị Thánh linh thiêng tôn quý trong tâm thức của các thế hệ người Việt Nam. Tọa lạc trên đồi Hỏa Hiệu thuộc dãy núi Mai Lĩnh với độ cao 1200m so với mực nước biển. Đền Thượng được xây dựng theo lối kiến trúc cổ hình chữ Công, tuân theo thuyết phong thủy vừa đường bệ mà lại rất trang nghiêm. Khu vực đền Thượng có cảnh quan thiên nhiên sơn thủy hữu tình cùng sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc truyền thống với nét văn hóa bản địa, tạo cho ngôi đền mang dáng vẻ uy nghi lộng lẫy. Soi mình bên dòng sông Nậm Thi, nơi đây xưa có vị trí vô cùng quan trọng trong chiến lược phòng thủ chống quân xâm lược. Ngày nay, gần cửa ngõ giao thương giữa hai tỉnh Lào Cai (Việt Nam) và Vân Nam (Trung Quốc), vùng đất linh thiêng nơi địa đầu Tổ quốc này mỗi năm đón hàng vạn lượt du khách trong và ngoài nước thăm viếng, tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc. Ngay từ khi bước chân đến cổng đền, du khách đã được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của cây đa 300 năm tuổi đang vươn cành trổ tán, dưới bóng cây cổ thụ là miếu thờ Bà chúa Thượng Ngàn (Nữ chúa rừng xanh). Tương truyền, trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, bà đã góp công đánh giặc bảo vệ bờ cõi nước Nam, ghi công ơn bà, nhân dân lập miếu thờ ngay dưới gốc cây đa xum xuê cành lá. Tại khu vực đền chính, bức hoành phi “Văn hiến tự tại” được treo trước Nghi môn, hai bên có hai câu đối: “Việt khí linh đài hoành không lập, Đông A hào khí vạn cổ tồn”, nghĩa là: “Nước Việt đài thiêng vắt ngang trời, Nhà Trần hào khí còn muôn thủa”. Mặt sau Nghi môn nội có dòng chữ “Quốc thái dân an” với hai câu đối: “Thiên địa dịu y, thiên địa cựu; Thảo hoa kim dị, thảo hoa tiền” nghĩa là: “Trời đất vẫn nguyên, trời đất cũ; Cỏ hoa nay khác, cỏ hoa xưa”. Đền Thượng được xây dựng khang trang với 7 gian thờ chính gồm: Cung thờ Phật Thích Ca Mâu Ni, Cung thờ Tam tòa Thánh Mẫu; Ban thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo; Cung thờ Đức vua cha Ngọc Hoàng... và các ban thờ phía Tả Vu - Hữu Vu thờ Chầu bà Đệ Nhị Sơn Trang, Thập Nhị Tiên Cô, Chầu hầu cận Chúa và Cậu Bé thủ đền... tất cả đều được sắp đặt theo trình tự. Bên cạnh Đền Thượng là ngôi đình hình vuông với 4 cửa, 8 rồng chầu, giữa phương đình hình rùa vàng lưng đội bia đá khắc tích "Đức Thánh Trần". Nơi đây trước kia là nơi nghỉ chân của các quan quân đi tuần, ngày nay, là rừng sinh thái với đủ các loại cây trồng bảo vệ môi trường, phục vụ du khách tham quan, nghỉ chân thưởng thức khí hậu trong lành. Đền Thượng nằm trong quần thể di tích văn hóa với chùa Tân Bảo, đền Am, đền Mẫu, đền Cấm, đền Quan. Đặc biệt, Đền Thượng là một trong những ngôi đền linh thiêng được nhiều người biết đến nhất trong hệ thống các đền, chùa ở Lào Cai. Qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo, năm 1996, Đền Thượng đã được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Hàng năm Đền Thượng tổ chức lễ hội vào ngày 15 tháng Giêng âm lịch, thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách trong và ngoài nước đến tham quan, chiêm bái. Nguồn: Du lịch Việt Nam

Lào Cai

8627 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu di tích lịch sử Nguyễn Thái Học

Di tích khu mộ Nguyễn Thái Học và các chiến sĩ trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930, nằm trong khuôn viên công viên Yên Hòa (rộng 30 ha ), thuộc phường Nguyễn Thái Học, thành phố Yên Bái được xây dựng từ năm 2001. Nguyễn Thái Học sinh ngày 1/12/1902 tại Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông là người yêu nước ngay từ khi còn ngồi trên ghế của nhà trường thực dân, ông đã gửi thư cho Toàn quyền Đông Dương Alexandre Varenne là đảng viên Đảng Xã hội Pháp, kêu gọi tiến hành cải cách xã hội ở Việt Nam. Vị Toàn quyền Đông Dương ấy không thèm quan tâm tới những điều mà Nguyễn Thái Học đề nghị. Ngày 25/12/1927, Nguyễn Thái Học và các đồng sự tổ chức thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng, ông được bầu làm Chủ tịch. Việt Nam Quốc dân Đảng bị nhà cầm quyền lùng sục, bắt bớ. Trước nguy cơ Việt Nam Quốc dân Đảng bị tan vỡ, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu và Phó Đức Chính đã quyết định tiến hành cuộc "tổng khởi nghĩa vũ trang". Nếu thất bại cũng là tấm gương cho đời sau tiếp bước, "Không thành công cũng thành nhân". Lực lượng khởi nghĩa gồm Việt Nam Quốc dân Đảng, chủ yếu là lính khố đỏ thuộc đại đội 5, 6, 7 Tiểu đoàn 2, Trung đoàn lính khố đỏ số 4 Bắc Kỳ. Lính khố xanh không tham dự khởi nghĩa. Đêm 9 rạng ngày 10/2/1930, khởi nghĩa Yên Bái bùng nổ, nghĩa quân đã hạ sát được hầu hết bọn sĩ quan, hạ sĩ quan chỉ huy ở các nhà riêng, phối hợp với nghĩa quân hai cơ lính khố đỏ đồn 5 và 6 đồn Dưới nổi dậy. Trước sân trại lính, một đại biểu của Việt Nam Quốc dân Đảng đọc bài "Hịch khởi nghĩa" với những khẩu hiệu: "Đuổi giặc Pháp về nước Pháp. Đem nước Nam trả người Nam. Cho trăm họ khỏi lầm than. Được thêm phần hạnh phúc". Cờ của Việt Nam Quốc dân Đảng tung bay trên trại lính và các công sở. Do không lôi kéo được toàn bộ lính khố xanh cơ số 7 và số 8 ở trên đồn cao, lực lượng mỏng nên nghĩa quân bị đánh bật khỏi các vị trí đã chiếm, cuộc khởi nghĩa bị dìm trong biển máu. Sau khởi nghĩa Yên Bái 5 ngày, Nguyễn Thái Học tổ chức khởi nghĩa ở Vĩnh Bảo, Phụ Dực, chủ trương tiến tới chiếm toàn bộ Hải Phòng. Nghĩa quân đã đánh chiếm được huyện lỵ Vĩnh Bảo, giết chết tên tri huyện Hoàng Gia Mô, một tên quan lại tham tàn độc ác. Với sự phản công quyết liệt của quân Pháp với vũ khí hiện đại, quân khởi nghĩa bị tiêu diệt. Nguyễn Thái Học trốn thoát do được sự che chở của nhân dân. Cùng một số đảng viên tiêu biểu còn lại của Việt Nam Quốc dân Đảng, Nguyễn Thái Học bàn bạc và dự định cải tổ lại Đảng và thay đổi phương hướng chiến lược và hoạt động của Đảng. Chủ trương này vừa khởi động thì ngày 20/2/1930, Nguyễn Thái Học bị bắt tại ấp Cổ Vịt (Chí Linh, Hải Dương). Ngày 23/3/1930, ông bị kết án tử hình. Ngày 17/6/1930, Pháp đưa Nguyễn Thái Học cùng 12 chiến sĩ khác của Việt Nam Quốc dân Đảng tại Yên Bái lên máy chém. Bước lên đoạn đầu đài, trước khi đưa đầu vào máy chém, Nguyễn Thái Học hô vang: "Việt Nam vạn tuế!". Pháp phải thừa nhận khởi nghĩa Yên Bái đã giáng một đòn chí mạng vào chính quyền thuộc địa. Di tích lịch sử Nguyễn Thái Học ghi dấu cuộc “Khởi nghĩa Yên Bái” hiện nay gồm khu lăng mộ, khu tượng đài, khu nhà đón khách, bia tưởng niệm và khuân viên cây cảnh. Khu tượng đài Nguyễn Thái Học và các cộng sự của ông trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930 tại Công viên Yên Hòa, thành phố Yên Bái. Nổi bật nhất khu vực này là câu nói nổi tiếng của Nguyễn Thái Học trở thành phương châm hành động và tư tưởng chủ đạo của Việt Nam quốc dân Đảng, đó là “Không thành công cũng thành nhân”, được nghĩa quân coi như lời thề quyết tử. Khởi nghĩa Yên Bái tuy không thành công, nhưng lòng yêu nước là bất diệt. Chính vì thế, trên đất nước ta, rất nhiều nơi lấy tên Nguyễn Thái Học đặt tên cho các đại lộ và các trường học. Cụ Phan Bội Châu đã viết bài văn tế về cuộc khởi nghĩa Yên Bái và các nhân vật trọng yếu của cuộc khởi nghĩa. Khu di tích lịch sử Nguyễn Thái Học, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia vào ngày 5/3/1990. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Yên Bái

Lào Cai

8488 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Mẫu Lào Cai

Đền Mẫu thuộc tổ 4, phường Lào Cai, Thành phố Lào Cai. Đền được toạ lạc tại hợp lưu giữa hai dòng sông Nậm Thi và Sông Hồng chảy vào đất Việt. Nơi đây cũng là cửa khẩu quốc tế Lào Cai (Việt Nam) - Hà Khẩu (Vân Nam - Trung Quốc) và cũng là điểm cột mốc 102 nơi vùng biên giới Tây Bắc. Đền Mẫu là nơi thờ đức Thánh mẫu Liễu Hạnh công chúa, một nhân thần giàu lòng nhân ái, trừ tà, diệt ác, cứu giúp dân nghèo, phù giúp cho triều đình chống giặc ngoại xâm bảo vệ vùng biên ải thiêng liêng của Tổ quốc. Đồng thời, Bà là người Mẹ linh kiệt trong tiềm thức dân gian của dân tộc Việt Nam. Tục thờ Mẫu ở nước ta đã trải qua trường kỳ lịch sử, đây không những là tục thờ mang đậm bản sắc dân tộc mà nó là nhu cầu chung về tâm linh của nhân dân ta từ thời kỳ đầu dựng nước, giữ nước cho đến tận ngày nay. Tín ngưỡng và tục thờ Mẫu khởi nguyên từ ý thức tưởng nhớ tổ tiên, lòng tôn kính, sự biết ơn, tin tưởng và mang ý nghĩa giáo dục đạo đức sâu sắc vẫn còn nguyên giá trị đối với các thế hệ chúng ta ngày nay. Thánh mẫu Liễu Hạnh in sâu trong tiềm thức của người dân Việt Nam nói chung và Lào Cai ta nói riêng từ thế kỷ thứ 16. Trải qua những bước thăm trầm của lịch sử đến ngày nay, dân Việt ta đã phong Bà là Mẫu Nghi Thiên Hạ, luôn ước nguyện Thánh Mẫu giúp cho “Thiên hạ Thái bình - Quốc thái dân an - Phong đăng hoà cốc”. Mẫu Liễu hạnh là một biểu tượng sinh động trong cuộc sống hằng ngày, nhưng lại rất linh thiêng trong đời sống tâm thức của người Việt Nam. Trong tiềm thức Bà là Tiên nên có phép Tiên; Là Phật nên mang tư tưởng Phật; là Mẫu nên có phẩm chất của người mẹ; là Thánh nên linh thiêng; là con nhà gia thế cho nên được học hành, thông kinh sử, giỏi đàn ca và thơ phú. Trong bà có đức hiếu nghĩa của Nho giáo, có pháp thuật của Đạo giáo. Chính bởi vậy, Thánh Mẫu Liễu Hạnh là hình tượng, là một trong Tứ Bất Tử, là Mẫu Nghi Thiên Hạ đã được nhắn nhủ, giáo dục chúng ta từ bao đời: “Tháng Tám giỗ cha - Tháng Ba giỗ Mẹ”. Tại Lào Cai, Đền Mẫu nằm trong quần thể Di tích Đền Thượng – Nơi thờ tự và ghi nhớ công lao to lớn của Quốc công tiết chế - Hưng Đạo Đại Vương - Trần Quốc Tuấn. Đền Mẫu cùng với Đền Thượng còn là nơi có vị trí chiến lược quan trọng, là cột mốc biên cương phía Bắc của Tổ quốc và là địa chỉ đỏ của cội nguồn lịch sử, văn hóa dân tộc. Đền Mẫu được xây dựng từ đầu thế kỷ 18, tọa lạc tại địa phận làng Lão Nhai (nay là Thành Phố Lào Cai), Phía sau ngôi đền tựa vào bức tường cổ do nghĩa quân Lưu Vĩnh Phúc xây dựng nhằm chống giặc ngoại xâm bảo vệ biên cương bờ cõi. Bởi vậy, Đền Mẫu đã được các triều đại vua nhà Nguyễn ban cho 3 đạo sắc phong: Tự Đức năm thứ Sáu (ngày 24/9/1853); Tự Đức năm thứ 33 (Ngày 24/11/1880); Khải Định năm thứ 9 (Ngày 25/7/1924). Nằm ở vị trí cửa khẩu biên giới Quốc Gia, trên trục đường giao thương Quốc Tế nên mặc dù đã trải qua hàng trăm năm với biết bao biến cố thăng trầm của Lịch Sử, đền Mẫu không những trở thành cột mốc biên giới linh thiêng được nhân dân, du khách thập phương trong nước, quốc tế tới viếng thăm, thắp nhang thờ phụng, mà còn là cột mốc văn hóa tâm linh vùng biên giới phía Bắc của Tổ quốc. Đền Mẫu được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia ngày 26/01/2011. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Lào Cai

Lào Cai

8103 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Khu căn cứ cách mạng Cam Đường

Khu căn cứ Cam Đường nằm tại thôn Dạ 1, xã Cam Đường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lao Cai. Cam Đường và các xã phụ cận Xuân Giao, Gia Phú là vùng đất giàu truyền thống yêu nước, quật khởi chống ngoại xâm. Khu du kích Cam Đường – Xuân Giao – Gia Phú đóng một vai trò rất quan trọng trong kháng chiến chống Pháp ở Lào Cai . Đó là căn cứ địa đầu tiên kiên cường, là điểm chỉ đạo thực hiện các Nghị quyết của Tỉnh uỷ Lào Cai về công tác xây dựng Đảng, thành lập chi bộ, thành lập Uỷ ban hành chính kháng chiến, xây dựng các đoàn thể yêu nước, thành lập đội du kích. Cam Đường là nơi nổi dậy đấu tranh vũ trang sớm nhất ở Lào Cai. Khu căn cứ cách mạng Cam Đường ra đời trong thời kỳ hết sức khó khăn của cuộc kháng chiến chống Pháp giai đoạn (1948-1950). Được xây dựng giữa vùng địch hậu, lại nằm ở vị trí chiến lược quan trọng nên khu du kích Cam Đường trở thành bàn đạp mở rộng xây dựng các khu du kích khác. Các đoàn cán bộ từ hậu phương (vùng Lục Yên-Yên Bái) trở về Lào Cai đã lấy Cam Đường làm nơi tập kết bí mật luồn sâu vào thị xã Lào Cai, ngược lên Mường Bo, Bình Lư, Phong Thổ hoặc sang Nậm Pung, Bát Xát, xây dựng các khu căn cứ, gây dựng phong trào chống Pháp ở vùng địch hậu. Đặc biệt, Cam Đường thật sự là vành đai, vùng đệm áp sát trung tâm đầu não của địch ở thị xã Lào Cai. Trong Chiến dịch Lê Hồng Phong giải phóng Lào Cai, các lực lượng trinh sát, quân báo và cả Trung đoàn 148 đều xuất phát từ Cam Đường. Khu du kích Cam Đường – Xuân Giao – Gia Phú suốt một thời gian dài còn là điểm đặt cơ quan lãnh đạo của Tỉnh uỷ, Tỉnh đội Lào Cai , nhiều cuộc họp quan trọng của tỉnh được tổ chức ở nơi đây. Khu căn cứ cách mạng Cam Đường được công nhận là Di tích Lịch sử cách mạng cấp quốc gia năm 1995. Đây là nơi Chi bộ Cam Đường, Chi bộ nông thôn đầu tiên được thành lập ngày 10-10-1948. Khu căn cứ Cam Đường còn được nhân dân, UBND xã lưu giữ khá nhiều hiện vật như nhà sàn – nơi thành lập chi bộ nông thôn đầu tiên; lán tập kết; cối giã thuốc súng; trống báo động và nhiều súng đạn; dao kiếm, mìn tự tạo của quân du kích Cam Đường. Hiện nay khu di tích cách mạng Cam Đường đã được tu bổ và xây dựng phòng trưng bày truyền thống tại xã Cam Đường gắn liền với tên gọi di tích để đáp ứng lòng mong mỏi của nhân dân, là nơi giáo dục về truyền thống lịch sử oai hùng chống ngoại xâm giành độc lập dân tộc cho thế hệ trẻ. Nguồn: Báo Quân khu 2

Lào Cai

7801 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Lễ đài sân vận động thành phố Yên Bái

Lễ đài sân vận động thành phố Yên Bái, thuộc phường Hồng Hà, thành phố Yên Bái là nơi Bác Hồ đứng nói chuyện với nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái ngày 25/9/1958. Đây là Di tích lịch sử cấp Quốc gia đã được Bộ văn hóa thông tin công nhận ngày 16/11/1988. Lễ đài nguyên là khán đài sân vận động thị xã xưa. Sân và Lễ đài nằm trong khu vực đông dân cư, trung tâm của tỉnh lỵ trước đây. Sân vận động thị xã có từ thời Pháp thuộc. Sau khi hoàn thành việc đánh chiếm và thành lập tỉnh Yên Bái (1900) đến năm 1905 Pháp thành lập trại lính lê dương bảo vệ chính quyền của chúng. Để phục vụ đời sống tinh thần của binh lính, nhất là các hoạt động văn hoá - thể thao. Năm 1927, Pháp cho xây dựng sân vận động này để tổ chức các hoạt động hội hè, đá bóng, nhưng xung quanh sân chỉ được đắp thành các mô đất cao chứ chưa có khán đài, đến năm 1930 mới hoàn thành. Từ đó, Pháp thường xuyên tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí tại đây, mời các đội bóng từ Hà Nội, Phú Thọ, Tuyên Quang đến thi đấu, đồng thời cũng tổ chức nhiều ngày "hội Tây" tại khán đài sân vận động thị xã này. Năm 1954, hòa bình lập lại, tỉnh Yên Bái chủ trương khôi phục lại sân bóng thành sân vận động thị xã. Tháng 1/1957, tỉnh cho xây dựng khán đài (lễ đài hiện nay) và tường bao quanh sân theo hình bầu dục. Sự kiện lịch sử quan trọng nhất là ngày 25/9/1958, phái đoàn của Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu lên thăm tỉnh Yên Bái. Trong thời gian làm việc tại tỉnh, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban hành chính tỉnh đã chọn sân vận động thị xã làm nơi mít tinh để Bác Hồ nói chuyện với nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Khi đó tỉnh Yên Bái là một trong những tỉnh khó khăn nhất miền Bắc, vừa mới dành được độc lập, chiến tranh tàn phá nặng nề, phần lớn địa hình là đồi núi, dân cư thưa thớt, trình độ dân trí thấp, nạn du canh du cư, mê tín dị đoan còn nhiều, cuộc sống còn vô cùng thiếu thốn. Trong lúc khó khăn nhất, Bác đã đến thăm Yên Bái. Sáng sớm ngày 25/9/1958, gần 5.000 cán bộ và nhân dân các dân tộc thị xã Yên Bái cùng đồng bào các vùng lân cận đã nô nức kéo đến dự mít tinh để được nhìn thấy Bác, nghe tiếng Bác. Từ tỉnh đội đi ra, Bác đến sân vận động và bước lên Lễ đài trong tiếng hò reo như sấm dậy của đồng bào. Sau khi mọi người im lặng, Bác bắt đầu nói chuyện, Người thân mật thăm hỏi cán bộ và nhân dân, chỉ ra những việc làm thiết thực. Người đề cập đến nhiều vấn đề từ đoàn kết dân tộc, tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Nói chuyện xong Bác bắt nhịp cùng toàn thể đồng bào Yên Bái hát bài "kết đoàn". Từ lễ đài, Người rời về nơi làm việc trong tiếng vỗ tay và những bài ca hùng tráng của đồng bào tỉnh nhà. Ngày 31/5/1966, một trận ném bom của máy bay Mỹ đã làm sập một góc của sân vận động, năm 1977 sân vận động được sửa lại thay cửa hình vòm bằng cửa hình vuông, toàn bộ kiến trúc vẫn được giữ nguyên. Năm 2016, khu Di tích lễ đài đã được cải tạo nâng cấp. Di tích lễ đài và toàn bộ kiến trúc của khu vực tưởng niệm Bác được thiết kế theo lối kiến trúc truyền thống, mô phỏng theo kiến trúc tưởng niệm Bác Hồ tại Kim Liên - Nghệ An quê Bác. Với ý nghĩa văn hóa lịch sử đó, nơi đây đang là một điểm đến, một địa chỉ của nhân dân và du khách đến thăm quan và thắp hương tưởng niệm Bác, mãi là nơi lưu giữ những kỷ niệm thiêng liêng về vị Lãnh tụ vĩ đại - Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái, là địa chỉ giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Yên Bái

Lào Cai

7763 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Đông Cuông

Đền Đông Cuông là một trong hai đền lớn ở thượng lưu sông Hồng, đã tồn tại từ lâu đời, tọa lạc tại xã Đông Cuông, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Đền Đông Cuông là cụm Di tích gồm 4 điểm: Ngoài Đền chính còn có Miếu Cô, Miếu Cậu và Miếu Đức Ông. Đền có từ lâu đời, qua sử sách thư tịch được biết Đền có muộn nhất vào đời Lê, được phát triển từ một Miếu cổ (thuộc trung tâm trại Quy Hóa thời Trần); Các thư tịch cổ như Kiến văn tiểu lục, Đại Nam thống nhất chí đều có ghi chép về ngôi Đền Đông Cuông này. Đền và khu vực đền có liên quan đến Đền Ngọc Tháp và Đền Hùng (Phú Thọ). Đền Đông Cuông sơ khởi là Miếu thờ Đông Quang công chúa do các dòng họ Hà, Hoàng là người Tày Khao sáng lập và thay nhau đảm lãnh công vụ chính quyền, đồng thời là nơi làm việc của Thổ Tù, chức dịch, phiên quan và đảm chức năng “Đinh Trạm” chuyển tống đạt công văn hai chiều giữa triều đình trung ương và cơ sở. Thời Trần tổng dinh Quy Hóa - Hà Bổng và ông Từ (Ngọc Tháp - Quang Sơn) lên trấn giữ biên ải. Hiện nay, trước là Đình, nay là Đền dòng họ Hà quán xuyến bởi tổ phụ của dòng họ Hà là Hà Văn đã từng lãnh đạo địa phương đánh giặc Nguyên - Mông thời Trần. Sử chép tháng 2 năm Đinh Hợi (1287) vua Nguyên - Mông lấy 7 vạn quân, 500 chiến thuyền, 6.000 quân Vân Nam và 1 vạn 5.000 quân ở 4 châu ngoài bể và sai thái tử Thoát Hoan làm đại nguyên soái; A Bát Xích làm Tả Thừa; A Lỗ Xích làm bình trương chính sự; Ô Mã Nhi làm chính sự đem tất cả hơn 30 vạn quân sang tiến đánh nước Nam. Trước tình thế đó, Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông đã sắc phong Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm quốc công tiết chế chỉ huy toàn bộ quân dân Đại Việt kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông. Đạo quân Nguyên - Mông do Nạt Tốc Lạt Đinh chỉ huy chạy ngược theo sông Lô về Vân Nam, khi chạy qua địa phận Phù Ninh (nay là huyện Phong Châu tỉnh Phú Thọ) chúng bị quân dân địa phương do anh em Hà Đặc, Hà Chương đã rút quân lên đánh tận căn cứ núi Chỉ (thuộc tỉnh Phú Thọ), từ trên núi đưa dân binh xông vào đồn quân tiên phong của giặc, tập kích bất ngờ bằng nhiều mưu lược quân sự. Quân của Hà Đặc, Hà Chương đuổi giặc tới tận A Lạp thì bị đạo quân đi sau của giặc chặn đánh, Hà Đặc anh dũng hy sinh, Hà Chương bị bắt . Quân Nguyên - Mông tan vỡ thiệt hại nặng, số sống sót rút chạy về Vân Nam. Theo gia phả của dòng họ Hà “vốn gốc người Tày Khao thuộc dòng Hà Đặc, Hà Chương thời Trần. Nay tụ cư tại An Bồi - Kiến Xương, Thái Bình: Hà Đặc và Hà Chương là hai anh em, khi đánh giặc Hà Chương hăng hái truy kích địch tới vùng Yên Bái đã hy sinh tại đó. Ông được phong hầu là “Bình Nguyên thượng tướng trung dũng hầu”". (Theo mục cổ tích Trấn Hưng Hóa) sau bị tử trận và được dân làng lập miếu thờ bên ghềnh ngai (thuộc thôn Ghềnh Ngai bên bờ trái thuộc xã Tân Hợp, huyện Văn Yên), vợ ông là Lê Thị và con trai ông là Hoàng Báo khi mất cũng được dân làng thờ bên Ghềnh Ngai và ít lâu sau, ban thờ mẹ và con được di chuyển sang đình cả Đông Cuông (nơi Đền Đông Cuông ngày nay). Chiến thắng quân Nguyên - Mông lần thứ 2 là một chiến thắng hiển hách, địa danh tiêu biểu Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Cự Đà sẽ mãi còn ghi trong sử sách. Kể từ khi di dời, đình được mở rộng và cải đổi trở thành Đền cụ Lê Quý Đôn thời Hậu Lê đã có ký lục. Sách Đại nam nhất thống chí có định danh là “Đền Thần Vệ Quốc” gọi theo sắc phong. Sự biến cuộc khởi nghĩa Giáp Dần (1913-1914), năm 1914 nghĩa quân Mán quần trắng, Mán đại bản và người Tày, người Nùng tỉnh Yên Bái tổ chức tập hợp lực lượng và nổi dậy năm Giáp Dần tấn công các đồn của Pháp trên địa bàn tỉnh Yên Bái và Lao Cai. Cùng thời gian này, công nhân hỏa xa và thương gia Việt Kiều tại tỉnh Vân Nam - Trung Quốc hưởng ứng lời kêu gọi của Phan Bội Châu và những người Việt Nam quang phục hội, lập hội ái hữu và hội yêu nước ở hải ngoại, bí mật ủng hộ phong trào đấu tranh chống Pháp ở trong nước. Một số đồn binh của Pháp dọc biên giới Việt Trung, địa phận Lao Cai bị nghĩa quân tấn công. Cuộc nổi dậy thất bại. Do thiếu tổ chức đúng đắn. Chính quyền thống trị Pháp thiết lập, tòa án quân sự đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh… xét xử những chiến sỹ yêu nước, hầu hết bị kết tội tử hình, chung thân hoặc khổ sai lưu đày, một số bị hành quyết lén lút. Năm 2000, đền được UBND tỉnh Yên Bái công nhận là Di tích lịch sử - văn hoá cấp tỉnh. Ngày 22/1/2009, đền được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia tại Quyết định số 296/QĐ-BVHTTDL. Nguồn: Bảo tàng tỉnh Yên Bái

Lào Cai

6486 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Nơi thành lập đội du kích Khau Phạ

Đội du kích Khau Phạ (xã Cao Phạ, huyện Mù Cang Chải) được thành lập vào tháng 10 năm 1946 tại bản Trống Tông Khúa trên đỉnh đèo Khau Phạ (trước đó vốn là một đội vũ trang được ra đời từ năm 1944 của đồng bào Hmông để chống lại sự đàn áp bóc lột của bọn thống trị, rồi sau trở thành đội vũ trang chống lại bọn Quốc dân đảng). Ban đầu lực lượng chỉ có 7 đội viên, vũ khí chỉ có 3 khẩu súng tự tạo là súng kíp, dao nhọn và cung nỏ. Trải qua một thời gian chiến đấu, đội du kích phát triển rất nhanh về quân số, lên 30 người, 50 người rồi khi đông nhất lên tới hơn 200 đội viên, lực lượng tham gia hầu hết là người dân địa phương (người Hmông). Đây là một di tích nằm trên vùng đồi núi hiểm trở, trải dài và rộng từ chân đèo Cao Phạ lên đỉnh đèo (dài trên 20km). Địa bàn hoạt động của đội du kích rộng, có nhiều địa điểm trong đó có ba địa điểm trọng yếu nhất, diễn ra những sự kiện quan trọng trong suốt gần 8 năm hoạt động của đội du kích Khau Phạ. Đó là: Bản Trống Tông Khúa - nơi thành lập đội du kích Khau Phạ;. nhà của ông Lý Nủ Chu - cơ sở cách mạng của Đội du kích Khau Phạ (bản Lìm Mông) và Hang Dơi - địa điểm phục kích Pháp dưới chân đèo Khau Phạ, năm 1948. Trong suốt những năm hoạt động (1946 - 1952), đội du kích đã chặn đánh nhiều trận, gây cho Pháp nhiều khó khăn, tổn thất. Được ra đời từ năm 1946, Đội vừa tổ chức huấn luyện vừa làm nhiệm vụ canh gác bảo vệ nhân dân, bảo vệ sản xuất tại đỉnh đèo vừa dựa vào địa thế núi rừng hiểm trở, phối hợp với bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương anh dũng đánh giặc, lập nhiều chiến công xuất sắc. Ngày 8-10-1947, địch càn quét đánh phá Khau Phạ. Dưới sự chỉ huy của đồng chí Đội trưởng Lý Nủ Chu, đội du kích đã dùng lực lượng nhỏ đánh trả, làm chết một tên quan 2 và bị thương nhiều tên lính Pháp, buộc địch phải bỏ dở cuộc hành quân. Trong giai đoạn 1947-1949, đội du kích đã nhiều lần nhịn đói, nhịn khát, sống trên rừng, ăn củ nâu, củ mài, quyết chiến đấu với giặc. Chính trong những năm tháng gian khổ này, Đội đã lập được nhiều thành tích rất đáng ghi nhận. Tiêu biểu là trận Nậm Khắt, đội du kích đã phục kích, bắn chạy toán loạn 1 đại đội của địch, thu gọn 2 khẩu súng. Tiếp đó là hai trận liên tiếp ở Gia Hội và Tú Lệ, đội du kích đã phối hợp với bộ đội đuổi đánh địch, thu được 2 khẩu súng, nhiều mìn và lựu đạn. Tháng 3/1948, đội du kích đã phối hợp với Đội xung phong Quyết Tiến do đồng chí Hồng Quân và Lý Bạch Luân phụ trách, tổ chức phục kích chặn đánh địch trên đoạn đường Tú Lệ - Gia Hội, thu được 3 súng trường và một số đạn dược. Cuối tháng 3-1948, Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu 10 quyết định mở chiến dịch Nghĩa Lộ, riêng đội du kích Khau Phạ đã phối hợp với đại đội 520 và đội xung phong Quyết Tiến đánh đồn Tú Lệ, bắt sống tên Bang tá Lò Văn Inh (chỉ huy đồn), đồng thời làm tan rã đơn vị lính dõng gồm 27 tên, thu 2 súng máy, gần 20 súng trường và một số vũ khí khác. Sau chiến thắng này, đội được trang bị thêm 50 khẩu súng. Từ năm 1949, nhận thấy sự lợi hại của Đội du kích Khau Phạ, địch ngày càng khủng bố hơn, chúng ra sức tập trung dân, kiểm soát chặt chẽ địa hình. Vì vậy, hoạt động của đội gặp nhiều khó khăn: thiếu lương thực, thực phẩm, đạn dược, mất hoàn toàn liên lạc với Đảng, với chính quyền, với quân đội nhưng vẫn tuyệt đối trung thành, kiên trì và chiến đấu liên tục. Sau năm 1951, Pháp đánh phá dữ dội các cơ sở của ta trong vùng hậu địch, hầu hết các cơ sở đều bị tan rã. Nhưng với lòng quả cảm, kiên cường bám trụ, Đội du kích Khau Phạ vẫn duy trì cuộc chiến đấu gây cho địch nhiều tổn thất. Đội đã trở thành một điểm nối quan trọng nằm ở cửa ngõ Mù Cang Chải, nối các cơ sở cách mạng trong vùng với hai đầu Nghĩa Lộ-Than Uyên. Tháng 10-1952, Bộ Tổng tư lệnh mở chiến dịch Tây Bắc nhằm giải phóng Phân khu Nghĩa Lộ và các tiểu khu Than Uyên, Phù Yên, Sơn La. Ngày 16 tháng 10 năm 1952, địch cho nhảy dù một tiểu đoàn xuống Tú Lệ, Cao Phạ nhưng đã bị đội du kích phối hợp với bộ đội chủ lực tiêu diệt, truy kích. Ngày 15 tháng 10 năm 1952, Than Uyên được giải phóng. Ngày 18 tháng 10 năm 1952, địch thất bại thảm hại ở Phân khu Nghĩa Lộ và tìm đường tháo chạy sang Sơn La, tàn quân địch đi qua Cao Phạ đã bị lực lượng du kích truy kích, tiêu diệt. Mù Cang Chải được hoàn toàn giải phóng khỏi ách chiếm đóng của thực dân Pháp. Ngày 27/8/2012, nơi thành lập đội du kích Khau Phạ đã được Bộ Văn Hoá Thể Thao & Du Lịch công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Yên Bái

Lào Cai

5123 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Di tích lịch sử Bến Âu Lâu

Bến Âu Lâu (nay nằm trên địa bàn xã Âu Lâu và phường Nguyễn Phúc, thành phố Yên Bái) là nơi góp phần quan trọng vận chuyển cán bộ, bộ đội, dân công, lương thực và vũ khí phục vụ các chiến dịch lớn thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, mở đường đến thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, lập lại hòa bình ở miền Bắc năm 1954. Năm 1953, bến đò mà người dân ven sông Hồng qua lại giao lưu, buôn bán được xây dựng thành bến phà Âu Lâu. Bến phà Âu Lâu là điểm nối thuận tiện giữa Việt Bắc và Tây Bắc của đất nước. Từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bến Âu Lâu là nơi tập kết, bí mật đưa đón các cán bộ cách mạng, chiến sỹ chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa và sau đó là thành lập Ủy ban cách mạng lâm thời và tiếp quản thị xã Yên Bái. Cũng chính ở nơi đây, thực dân Pháp đã dẫn giải các tù chính trị từ Nghệ An (1943), Thái Nguyên (1945) qua bến sang giam ở Căng Nghĩa Lộ. Đêm 16 rạng ngày 17/8/1945, theo kế hoạch Ủy ban quân sự cách mạng du kích Âu Lâu và du kích Âu Cơ (Vân Hội) cùng bộ đội hữu ngạn sông Hồng qua sông đánh trại Bảo an cướp chính quyền từ tay Nhật. Năm 1951, trong chiến dịch Lý Thường Kiệt, một hướng của đại đoàn 312 qua bến sang đánh vào khu quân sự Nghĩa Lộ (3/10/1951). Chiến dịch Tây Bắc diễn ra, đêm 10-11/10/1952 bến Âu Lâu là một trong bốn bến mà trung đoàn 36, trung đoàn 174 của đại đoàn 316 và đại đoàn 308 vượt sông Hồng vào Ca Vịnh, Ba Khe, đèo Hồng đánh căn cứ Cửa Nhì. Cuối tháng 11/1952, theo chỉ thị của Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh yêu cầu gấp rút mở rộng tuyến đường 13 từ Việt Bắc qua Yên Bái. Trong hoàn cảnh khó khăn và địch bắn phá ác liệt nhưng chúng ta vẫn thông đường 13 sớm 5 ngày qua bến Âu Lâu tiếp viện cho chiến trường Tây Bắc. Bến Âu Lâu có vị trí quan trọng là nối liền hệ thống giao thông Việt Bắc với Tây Bắc, là nơi duy nhất có thể cẩu các loại vũ khí hạng nặng như: pháo mặt đất, pháo cao xạ, xe ô tô chở đạn dược, khí tài quân sự qua sông tiếp viện cho chiến trường Điện Biên Phủ. Trong thời gian này, bến Âu Lâu được tăng cường cả về nhân lực và phương tiện để chuyên chở vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, dân công, bộ đội vượt sông Hồng, đồng thời gồng mình chống đỡ những trận bom ác liệt của thực dân Pháp. Ban đêm là lúc chủ yếu diễn ra các hoạt động ở bến Âu Lâu để tránh sự phát hiện của địch, những chuyến phà qua lại một cách nhanh nhất để thông đường cho xe tiếp viện. Để ngăn chặn sự phá hoại của máy bay địch, ban ngày ta phải kéo phà lên thượng lưu vào Ngòi Lâu nhấn chìm phà, ban đêm lại tát nước kéo phà ra. Từ 11/1953 - 5/1954, thực dân Pháp tập trung bắn phá ác liệt bến Âu Lâu hơn 200 ngày đêm với 2.700 tấn bom đạn nhưng chỉ tắc 8 ngày đêm và chúng ta vẫn vận chuyển được hàng nghìn tấn lương thực và hàng trăm tấn đạn dược, vũ khí cho mặt trận Điện Biên Phủ. Sau những ngày tháng phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, từ năm 1955-1965, bến được nâng cấp từ phà gỗ sang phà thép có ca nô sắt. Năm 1965-1968, với tinh thần: “Sống bám cầu đường, chết kiên cường dũng cảm” bến đã có 100 lần đưa 500 lượt xe pháo qua sông, chuyên chở gần 200.000 lượt ô tô, hàng ngàn tấn hàng hóa qua lại. Những năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, chúng đã dùng nhiều tốp máy bay đánh phá trong 4 tiếng gây thiệt hại nặng nề cho thị xã Yên Bái và bến phà Âu Lâu trong ngày 31/5/1966. Năm 1967, bến Âu Lâu vinh dự được Thủ tướng Phạm Văn Đồng qua thăm nhân dịp lên chúc tết quân và dân hai tỉnh Yên Bái và Nghĩa Lộ. Ngày 18/12/1972, giặc Mỹ lại tiếp tục tập kích Yên Bái trong đó có bến Âu Lâu nhưng vẫn không cản được những chuyến phà chở người và lương thực, thực phẩm tiếp tế cho chiến trường miền Nam. Sau khi đất nước thống nhất, bến phà Âu Lâu tiếp tục hoạt động và xây dựng thành đơn vị chủ chốt của ngành giao thông vận tải tỉnh Yên Bái. Ngày 07/8/2012 Bến Âu Lâu được Bộ Văn Hoá Thể Thao & Du Lịch công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia . Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Yên Bái

Lào Cai

5058 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Đền Cô Tân An

Đền Cô Tân An, thuộc xã Tân An, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai (còn gọi là Đền Cô Bé Thượng Ngàn), được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 2016, là nơi thờ tự một nữ chúa Thượng Ngàn có tên Nguyễn Hoàng Bà Xa, đã có công chinh phạt giặc ác, giữ yên bờ cõi, được cư dân vùng Bảo Hà và Khau Ban (địa danh Văn Bàn cổ xưa) suy tôn là vị Thánh Mẫu. Theo sử sách chép lại, vào cuối đời Lê, niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786), khi khắp vùng Qui Hóa, nhất là châu Thủy Vỹ, Văn Bàn luôn bị giặc cướp tàn phá, “Khắp vùng loạn lạc, dân cư điêu tàn, ruộng đất bỏ hoang”. Trước sự loạn lạc ấy, bà Nguyễn Hoàng Bà Xa đã cùng cha là Thần Vệ quốc Nguyễn Hoàng Bẩy đứng lên chiêu dụ đồng bào các dân tộc thiểu số như Dao, Giáy, Nùng áo xanh… khẩn điền khai mỏ, đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi, giành lại cuộc sống ấm no cho muôn dân. Khi bà mất đi, “Hương thơm còn lẫy lừng, ảnh hào quang sáng tỏ muôn nơi”, để tưởng nhớ công lao to lớn của bà nhân dân trong vùng tạc dạ ghi ơn và đóng góp công sức, tiền của xây dựng đền thờ, cử người trông coi hương khói thường xuyên. Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, sự biến đổi của thiên nhiên, hiện nay ngôi đền đã được tôn tạo, xây dựng lại trên chính vị trí khu đất linh thiêng xưa (trên nền đất rộng, ngay bên bờ sông Hồng, nhìn theo hướng Đông Bắc, đối diện với di tích lịch sử văn hóa Quốc gia đền Bảo Hà), trở thành địa chỉ du lịch tâm linh uy linh thu hút đông đảo du khách thập phương. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Lào Cai

Lào Cai

5002 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

Căng và Đồn Nghĩa Lộ

Khu di tích Căng và Đồn Nghĩa Lộ nằm trên trục chính đường Điện Biên (Quốc lộ 32). Đây là điểm trung tâm của thị xã Nghĩa Lộ và vùng lòng chảo cánh đồng Mường Lò. Khi nhắc tới lịch sử của Căng và Đồn Nghĩa Lộ là nhắc tới địa danh Văn Chấn và nhắc tới lịch sử nơi này thời kỳ kháng chiến chống Pháp những năm 40 của thế kỷ XX. Với ý đồ dập tắt phong trào cách mạng của ta, thực dân Pháp đã lập các trại "lao động đặc biệt" để bắt nhốt những người yêu nước đưa vào trại tập trung. Sau khi Căng Bá Vân (Thái Nguyên) bị giải thể, thực dân Pháp đã đưa những người yêu nước bị giam về Nghĩa Lộ. Mùa hè năm 1944, tri phủ Văn Chấn đã huy động các tổng, xã bắt phu, nộp vật liệu để xây dựng Căng. Thực dân Pháp còn cử tên Đinh Văn Dung và tên Lăm - Be, sở mật thám huyện đến kiểm tra đôn đốc khẩn trương ngày đêm. Đến tháng 1/1945 thì việc xây dựng hoàn thành. Nhìn toàn cảnh lúc này, Căng Nghĩa Lộ như một cái tủ dựng đứng có ba dãy nhà dài "hai dãy là nơi giam giữ chính trị phạm nam giới, phía trong giam chính trị phạm nữ giới, phía ngoài là nơi thường trực và bên cạnh là trạm gác của lính khố xanh". Bao bọc toàn bộ khu Căng - Đồn là hàng rào dây thép gai, phía ngoài hàng rào là hầm sâu có cắm chông, bồn góc Căng có chòi cao sừng sững, ngày đêm canh giữ cẩn mật. Cuộc chiến đấu ác liệt của quân và dân ta với sự kiện phá Căng - Đồn Nghĩa Lộ, giải phóng Văn Chấn lần thứ nhất năm 1945, thực sự là những trang sử vô cùng oanh liệt. Văn Chấn là huyện lớn, nằm ở phía Tây của tỉnh Yên Bái, địa hình là một khu núi rừng trùng điệp, có nhiều núi cao, hang động, là vị trí quân sự có tầm chiến lược quan trọng "tiến có thế công, lùi có thế thủ". Vì thế, giặc Pháp đã đặt mục tiêu phải chinh phục cho bằng được Văn Chấn. Thực hiện ý đồ ấy, ngày mùng 2/10/1947, chúng đem quân đánh tái chiếm Văn Chấn, với âm mưu đánh nhanh và sử dụng lực lượng quân sự mạnh, vũ khí tối tân. Thực dân Pháp muốn khuất phục nhân dân các dân tộc Văn Chấn bằng cách bắn giết hết sức man rợ. Chiếm được Văn Chấn, địch dựa vào những tên tay sai lập nên bộ máy cai trị từ huyện đến xã; đồng thời đặt đồn Nghĩa Lộ thành Phân khu quân sự mạnh nhất trong bốn Phân khu ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Sau khi cắm các đồn bốt và dựng lên bộ máy cai trị, giặc Pháp thực hiện âm mưu chia để trị, dùng người dân tộc này giết người dân tộc khác, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh; chúng biến hệ thống ngụy quân, ngụy quyền thành một công cụ đàn áp, bóc lột nhân dân các dân tộc. Chúng chặt đầu, mổ bụng, moi gan một số cán bộ, chiến sĩ của ta. Rồi chúng dùng mô đá trên Ngòi Lao làm pháp trường xử tử 76 cán bộ, chiến sĩ giữa dòng nước xiết. Trong gần 5 năm (1947 - 1952) chiếm đóng Văn Chấn, bọn Pháp đã giết hại và gây thương tích cho hơn 300 người, làm mất tích khoảng 56 người. Hàng nghìn con em các dân tộc bị cường ép đi làm lính đánh thuê cho chúng, cầm súng bắn lại đồng bào, đốt phá rừng núi quê hương. Ngoài việc bắn giết, chúng còn đốt nhà, phá lúa, cướp trâu bò và hàng nghìn tấn lương thực, hãm hiếp phụ nữ và trẻ em. Chúng bắt đồng bào vào ở ngay dưới chân đồn bốt để cắt đứt liên lạc với Việt Minh và bắt đồng bào quen với sự bắn giết man rợ. Độc ác hơn, chúng còn làm hàng rào bằng xương, bằng thịt của đồng bào để ngăn đòn tấn công của quân ta. Những cái nhỏ như củ khoai, củ sắn, bát gạo, lưng cơm và cái quý nhất của con người là tâm hồn, thể xác đều bị chúng giành giật và thuộc quyền sở hữu của quan đồn. Trước sự tàn sát của súng đạn, nhân dân các dân tộc Văn Chấn đã trỗi dậy sự căm phẫn giặc sâu sắc, khơi dậy niềm tin, tình cảm và lòng yêu nước, tin vào Việt Minh, tin theo kháng chiến. Nhân dân ta đã nổi dậy với tinh thần quyết chiến, quyết thắng và giành được thắng lợi vào lúc 5h30 phút ngày 18/10/1952. Chính sự ủng hộ của đồng bào và quyết tâm giành độc lập, tự do cho Tổ quốc đã thôi thúc quân và dân ta chiến đấu, lập nên chiến công vang dội vào mùa thu năm 1952, giải phóng Nghĩa Lộ. Để tưởng nhớ các trận chiến đấu oanh liệt, ngày 25/7/1992, Uỷ ban nhân dân huyện Văn Chấn đã xây dựng "Đài tưởng niệm Căng Nghĩa Lộ". Hiện nay, Khu di tích Căng - Đồn Nghĩa Lộ bao gồm: Đài tưởng niệm Căng Nghĩa Lộ, tượng đài chiến thắng Nghĩa Lộ mang hình tượng anh bộ đội Cụ Hồ và nhân dân các dân tộc trong chiến dịch giải phóng Nghĩa Lộ tháng 10 năm 1952, cùng với nhà bia ghi tên các liệt sĩ. Ngày 27/9/1996, Bộ trưởng Bộ Văn hoá - thông tin công nhận di tích Căng và Đồn Nghĩa Lộ là Khu di tích lịch sử cấp Quốc gia. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Yên Bái

Lào Cai

4902 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia

Mở

×
Hỏi AI