Top 26+ di tích lịch sử tại Bắc Giang nhất định nên khám phá

Đi du lịch Bắc Giang, chúng ta sẽ được đến với mảnh đất của những điệu chèo cổ và khám phá nét tín ngưỡng văn hóa đặc sắc. Hãy cùng cảm nhận vẻ trầm lắng của nơi đây qua các di tích lịch sử tại Bắc Giang như chùa Vĩnh Nghiêm, đình Thổ Hà, đền Xương Giang…

Bắc Giang - vùng đất Đông Bắc Việt Nam,nổi bật với hệ thống di tích lịch sử phong phú,là những chứng nhân của quá trình dựng nước và giữ nước. Mỗi địa điểm ở đây đều mang giá trị văn hóa,lịch sử sâu sắc,là niềm tự hào của người dân Bắc Giang và điểm đến ý nghĩa cho du khách muốn tìm hiểu về truyền thống dân tộc. Cùng 63Stravel khám phá các di tích này trong bài viết.

Top 26 di tích lịch sử tại Bắc Giang nổi tiếng

Dưới đây là các di tích lịch sử tại Bắc Giang nổi tiếng nếu có cơ hội đến đây hãy ghé và trải nghiệm.

1. Khu Du lịch Khuôn Thần

Hồ Khuôn Thần nằm ở xã Kiên Lao,huyện Lục Ngạn,cách thành phố Bắc Giang khoảng 40km về phía Đông Bắc,là điểm đến lý tưởng cho những ai muốn hòa mình vào thiên nhiên. Với diện tích 240 ha,hồ được bao bọc bởi rừng thông hùng vĩ và đồi vải xanh ngát,tạo nên không gian yên bình và mát mẻ.

Bâng khuâng trước vẻ đẹp yên bình của hồ Khuôn Thần

Bâng khuâng trước vẻ đẹp yên bình của hồ Khuôn Thần

Điểm nhấn của hồ là năm hòn đảo nhỏ nhấp nhô giữa làn nước trong xanh,nơi có những rừng thông 15-20 năm tuổi trải rộng khoảng 800 ha,kết hợp rừng tự nhiên và rừng tái sinh. Hồ Khuôn Thần mang đến khung cảnh hữu tình,thanh bình,là nơi lý tưởng để thư giãn và tránh xa những ồn ào,áp lực cuộc sống.

2. Khu du lịch tâm linh sinh thái Tây Yên Tử

Khu bảo tồn Tây Yên Tử tọa lạc tại xã Tuấn Mậu,huyện Sơn Động,là một điểm đến du lịch Bắc Giang nổi bật với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và hùng vĩ. Với diện tích lên tới 13.022,7 ha,nơi đây là tổ hợp của hệ sinh thái phong phú và các di tích lịch sử từ thời Lý – Trần như Am Vãi,Hồ Bấc,Khám Lạng… mang đậm dấu ấn văn hóa Phật giáo của thiền phái Trúc Lâm.

Chiêm ngưỡng vẻ đẹp của khu du lịch tâm linh sinh thái Tây Yên Tử

Chiêm ngưỡng vẻ đẹp của khu du lịch tâm linh sinh thái Tây Yên Tử

Khu vực này không chỉ là một không gian lý tưởng để tôn vinh văn hóa tâm linh mà còn là nơi để du khách tận hưởng không khí trong lành và thiên nhiên hùng vĩ. Những công trình tôn giáo uy nghiêm và bức tường thành được xây dựng từ thời nhà Trần tạo nên nét đặc sắc cùng với khung cảnh núi non bao la,Tây Yên Tử thực sự là nơi xoa dịu tâm hồn và mang đến những trải nghiệm đáng nhớ cho những ai ghé thăm.

3. Động Thiên Thai - Đền thờ Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm

Động Thiên Thai thuộc xã Hồng Kỳ,huyện Yên Thế,là một di tích lịch sử quan trọng,được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt năm 2012. Là một phần của "Thất diệu đồn điền" do Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm - một danh nhân yêu nước tài hoa - sáng lập.

Động này không chỉ lưu giữ giá trị lịch sử mà còn là nơi diễn ra nhiều sự kiện văn hóa,tín ngưỡng quan trọng của người dân địa phương. Động Thiên Thai với kiến trúc giản dị nhưng ý nghĩa,từng là nơi khắc in những văn bản thơ Nôm - Hán của Kỳ Đồng,nay đã và đang được trùng tu nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa độc đáo của di tích này.

4. Chùa Phúc Tằng

Chùa Phúc Tằng (còn gọi là Sùng Quang Tự) nằm tại thôn Phúc Tằng,xã Tăng Tiến,huyện Việt Yên,tỉnh Bắc Giang,là một ngôi cổ tự có diện tích gần 5.000 m²,hướng Nam ghé Tây – một hướng mang ý nghĩa tốt lành theo Phật giáo. Ngôi chùa được xây dựng từ thời Lý,với nhiều lần trùng tu,nổi bật nhất vào năm 1630 dưới thời Chúa Trịnh Tráng.

Chùa Phúc Tằng (Sùng Quang Tự) - Di tích kiến trúc nghệ thuật Quốc gia

Chùa Phúc Tằng (Sùng Quang Tự) - Di tích kiến trúc nghệ thuật Quốc gia

Ngôi chùa có kiến trúc chồng diêm độc đáo,gồm toà tiền đường và thượng điện,mang phong cách đặc trưng của tông phái Đại thừa. Đặc biệt,chùa sở hữu ba bức chạm gỗ tinh xảo cùng hệ thống tượng Phật cổ quý giá.

Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử,chùa vẫn lưu giữ các tài liệu,hiện vật văn hóa có giá trị,như bia đá từ thời vua Lê Thần Tông và bức chạm gỗ độc đáo,góp phần khẳng định giá trị nghệ thuật và tâm linh của chùa Phúc Tằng.

5. Cụm di tích Lý Cốt

Cụm di tích Lý Cốt tại xã Phúc Sơn,huyện Tân Yên,Bắc Giang là một quần thể tâm linh bao gồm đình,chùa,nghè,phần mộ,giếng Hà và đền Đót,nơi tưởng nhớ Nàng Giã Đại Thần – nữ tướng Dương Thị Giã của thời Hai Bà Trưng. Truyền thuyết kể rằng bà từng tập hợp nghĩa quân tại vùng núi Đót để chống lại quân Hán,lập nhiều chiến công hiển hách và tuẫn tiết tại đây.

Kiến trúc của cụm di tích mang phong cách “tiền Thần,hậu Phật,” tức đình trước chùa sau,với khuôn viên rộng lớn,cổ kính nhờ cây đại hàng trăm năm tuổi. Cụm di tích có từ thời Lê Trung Hưng và là nơi diễn ra lễ hội vào ngày 14 tháng Giêng và mùng 8 tháng Tư âm lịch. Lễ hội đậm màu sắc tín ngưỡng thờ nữ thần,với nghi lễ "cấm lửa" và "cấm đồng," cùng các trò chơi dân gian như đua ngựa,đấu vật,kéo co,tạo nên nét văn hóa độc đáo chỉ có tại vùng văn hóa núi Đót.

6. Đền thờ Tiến sĩ Thân Nhân Trung

Đền thờ Tiến sĩ Thân Nhân Trung tọa lạc tại số 36 phố Hoàng Công Phụ,gần chợ Nếnh,cách thành phố Bắc Giang khoảng 12 km về phía Tây - Nam. Với diện tích 2,5 ha,công trình mang đậm dấu ấn kiến trúc truyền thống Việt Nam,bao gồm nhiều hạng mục như đền thờ,tượng đài,sân hành lễ,tháp bút và hồ bán nguyệt,được bao quanh bởi cây xanh cảnh quan.

 Đền thờ Tiến sĩ Thân Nhân Trung

 Đền thờ Tiến sĩ Thân Nhân Trung

Đền không chỉ tôn vinh Tiến sĩ Thân Nhân Trung - người mở đầu cho dòng họ Tiến sĩ ở làng Yên Ninh,mà còn lưu giữ nhiều hiện vật quan trọng,trong đó có bảng gỗ ghi câu nói nổi tiếng “Hiền tài là nguyên khí quốc gia.” Từ thế kỷ XV đến XVII,làng Yên Ninh đã có 10 Tiến sĩ nổi bật,phản ánh truyền thống hiếu học của địa phương.

Được phục dựng vào năm 1995 nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa,giáo dục lòng yêu nước và tinh thần học tập cho các thế hệ sau. Những lễ hội diễn ra tại đây không chỉ là dịp tưởng nhớ công lao của các vị Tiến sĩ mà còn là nơi khơi dậy niềm tự hào dân tộc,với câu nói của Thân Nhân Trung luôn là kim chỉ nam cho mọi thế hệ.

7. Đình Bài Xanh

Đình Bài Xanh tọa lạc dưới sườn núi Bài ở phía Tây,là một di tích văn hóa tiêu biểu mang đậm dấu ấn lịch sử và tín ngưỡng của nhân dân địa phương. Với kiến trúc truyền thống 3 gian 2 chái,đình đã trải qua nhiều thăng trầm,từ thời Lê đến Nguyễn và vẫn giữ được nhiều di vật quý giá như bia đá,câu đối và sắc phong.

Đây là nơi thờ Thành hoàng làng Cao Sơn Đại Vương,vị anh hùng đã có công lớn trong việc đánh giặc ngoại xâm và được phong thần bởi triều đình. Đình không chỉ là một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo với những nét chạm khắc tinh xảo,mà còn là nơi tổ chức các lễ hội hàng năm,gắn kết cộng đồng và bảo tồn truyền thống hiếu học. Năm 1995,Đình Bài Sanh được công nhận là di tích kiến trúc-nghệ thuật cấp Quốc gia,khẳng định giá trị văn hóa và lịch sử của địa phương.

8. Đình Mật Ninh

Đình Mật Ninh là một biểu tượng văn hóa tín ngưỡng nổi bật của thôn,với kiến trúc đồ sộ và nghệ thuật chạm khắc tinh xảo. Được xây dựng từ thời Lê,đình đã tồn tại gần 400 năm,ghi dấu ấn lịch sử qua tấm bia đá cổ "Hành Huệ lưu phúc chi bi" từ năm 1664. Đình thờ đức thánh Cao Sơn đại vương,người có công lớn trong việc chống giặc ngoại xâm,với câu chuyện huyền bí về nguồn gốc và tài năng phi thường của ông.

Dù trải qua bao thăng trầm của lịch sử,đình Mật Ninh vẫn vững vàng trên nền đất xưa,chỉ còn lại tòa đại đình và hậu cung,mang đậm dấu ấn kiến trúc Lê với lối xây dựng truyền thống. Nghệ thuật chạm khắc ở đây vẫn giữ được vẻ đẹp và sức sống của văn hóa dân gian,thể hiện qua các đề tài quen thuộc như hoa lá,tứ linh…

Cổng đình được xây dựng sau,với 2 cột đồng trụ nổi bật,dẫn vào không gian bên trong. Tòa đại đình ba gian hai chái,mái ngói cong mềm mại,như một chiếc thuyền úp giữa ao hồ. Các chi tiết trang trí như hình cánh phong và các con kìm,ly thể hiện sự khéo léo và tâm huyết của các nghệ nhân.

Ngoài ra,đình còn lưu giữ nhiều hiện vật quý giá như bia đá,sắc phong,câu đối và các đồ thờ tự,giúp làm phong phú thêm giá trị văn hóa,lịch sử của di tích. Đình Mật Ninh không chỉ là nơi thờ phụng mà còn là địa điểm tổ chức các hoạt động văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng,xứng đáng được bảo tồn và phát huy giá trị trong thời đại hôm nay.

9. Đình Chiền

Làng Chiền là một phần của xã Nội Hoàng,huyện Yên Dũng,tỉnh Bắc Giang,nằm dưới chân núi Nham Biền với địa thế "Long Hổ quần tụ". Ngôi làng có 265 hộ với hơn 1.000 nhân khẩu,từ lâu đã nổi tiếng với những nét văn hóa độc đáo và lịch sử phong phú. Sự phát triển của làng gắn liền với việc khai hoang lập thôn mới,trong đó thôn Chiền vẫn giữ được những giá trị truyền thống đặc sắc.

Trung tâm làng Chiền là ngôi đình thờ thần Cao Sơn và Đổng Đĩnh,những vị thần đã có công lớn trong việc bảo vệ Tổ quốc. Đình Chiền được xây dựng từ thời Hậu Lê và đã trải qua nhiều lần tu sửa,trong đó có sự đóng góp của dòng họ Dương. Năm 1999,dân làng đã chung tay xây dựng lại đình sau khi bị tàn phá. Đình hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật quý giá và đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.

Hội làng Chiền diễn ra vào ngày 8,9 và 10 tháng 8 âm lịch hàng năm,với những nghi lễ độc đáo như thui trâu tế thần và rước cỗ. Đây là dịp để người dân tưởng nhớ các vị thành hoàng và cầu cho mưa thuận gió hòa. Các trò chơi dân gian truyền thống như bịt mắt đập niêu,đánh cờ,và bắt vịt cũng thu hút đông đảo người tham gia. Sự kiện không chỉ thể hiện lòng thành kính mà còn gắn kết cộng đồng và gìn giữ bản sắc văn hóa.

>> Đọc thêm: Đi du lịch tại Phú Thọ thì mua gì về làm quà?

10. Đình Lũ Phú

Đình Lũ Phú thuộc xã Xuân Phú,huyện Yên Dũng,tỉnh Bắc Giang,có lịch sử lâu đời và được xây dựng theo kiểu chữ Nhất từ thời Lê Trung Hưng,với niên đại được ghi trên tấm bia năm 1680. Đình có kiến trúc hình chữ công,gồm 7 gian tiền tế và 3 gian hậu cung,nổi bật với những họa tiết chạm khắc tinh xảo thể hiện nghệ thuật dân gian.

Tại đây thờ Tướng quân Vũ Thành và Hà Công Khánh,những vị anh hùng đã có nhiều công lao trong sự nghiệp bảo vệ đất nước. Đình Lũ Phú không chỉ là nơi thờ cúng mà còn là trung tâm của nhiều sự kiện lịch sử quan trọng,từ các cuộc mít tinh cho đến những hoạt động kháng chiến chống thực dân Pháp.

Lễ hội truyền thống diễn ra vào ngày 8 và 9 tháng Giêng âm lịch hàng năm,thu hút đông đảo người dân tham gia. Với những giá trị văn hóa và lịch sử đặc sắc,đình Lũ Phú đã được công nhận là di tích Lịch sử - Văn hóa cấp tỉnh vào năm 2004.

11. Đền Cầu Khoai

Di tích đền Cầu Khoai (hay còn gọi là đền Cô) là nơi thờ cúng hai cô gái dũng cảm Đàm Thị Dung Hoa và Đàm Thị Quế Hoa - con của quan Đàm Thận Huy,những người đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm vào thế kỷ 16. Sau khi cha mất,hai cô tiếp tục lãnh đạo quân đội trong ba ngày,cho đến khi buộc phải tuẫn mình xuống sông Sỏi để bảo toàn danh tiết. Để tưởng nhớ công ơn của họ,dân địa phương đã lập đền thờ và sau này xây thêm chùa Hoài Âm để cầu siêu cho linh hồn hai cô.

Khám phá di tích quốc gia đặc biệt Đền Cầu Khoai

Khám phá di tích quốc gia đặc biệt Đền Cầu Khoai

Đền Cầu Khoai không chỉ ghi dấu lịch sử với cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo mà còn là trung tâm của nhiều sự kiện lịch sử quan trọng như các trận đánh chống thực dân Pháp. Được xây dựng vào năm 1524 và trải qua nhiều lần trùng tu,ngôi đền hiện có kiến trúc kiểu chữ đinh với tượng thờ hai cô và các thị nữ.

Hàng năm vào ngày 23 tháng Giêng,lễ hội được tổ chức để tưởng nhớ và tôn vinh những anh hùng đã hy sinh cho tổ quốc,thu hút đông đảo du khách tham gia. Đền Cầu Khoai đã được công nhận là di tích Quốc gia đặc biệt,khẳng định giá trị lịch sử và văn hóa của nó trong lòng người dân và du khách.

12. Cụm Di tích Tiên Lục

Cụm di tích Tiên Lục là một trong những công trình văn hóa tâm linh tiêu biểu,nổi bật với giá trị kiến trúc và nghệ thuật được thể hiện qua các tác phẩm chạm khắc tinh xảo. Dù đã trải qua hơn 300 năm,nơi đây vẫn bảo lưu nhiều mảng chạm khắc đặc sắc từ thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII-XVIII) và thời Nguyễn (thế kỷ XIX),thể hiện sự chuyển giao và tiếp biến trong nghệ thuật kiến trúc Việt Nam.

Trong số những đề tài tiêu biểu,chạm khắc “đấu vật” tại đình Viễn Sơn nổi bật với hình ảnh hai người đàn ông cởi trần trong tư thế vui vẻ,thể hiện tinh thần phấn khởi. Đề tài “Tiên nữ cưỡi rồng” cũng rất phổ biến,gắn liền với ý nghĩa linh thiêng và may mắn,tạo nên biểu tượng gần gũi với người dân. Kỹ thuật chạm kênh bong,kết hợp giữa chạm nổi và chạm lộng,tạo ra nhiều lớp không gian sống động trên từng mảng gỗ.

Khác biệt với nhiều ngôi đình khác,Cụm di tích Tiên Lục để trần gỗ tự nhiên,thể hiện sự mộc mạc nhưng vẫn tinh tế. Mỗi ngôi đình trong cụm đều mang phong cách chạm khắc riêng biệt như đình Viễn Sơn với các đường nét phóng khoáng và đình Thuận Hòa với những mảng chạm trau chuốt. Bảo tàng tỉnh Bắc Giang đánh giá rằng,cụm di tích này phản ánh một cách toàn diện về thẩm mỹ điêu khắc và trang trí kiến trúc trong các giai đoạn lịch sử,góp phần làm nổi bật giá trị văn hóa nghệ thuật của vùng đất Bắc Giang.

13. Khu di tích núi Dành

Khu di tích Núi Dành tọa lạc tại xã Liên Chung và xã Việt Lập,huyện Tân Yên,tỉnh Bắc Giang,nằm bên dòng sông Thương thơ mộng,được bao quanh bởi thiên nhiên xanh mướt và trong lành. Nơi đây thu hút du khách bởi quần thể ba ngôi đền cổ kính trên đỉnh núi,cùng với cảnh sắc hữu tình. Ngọn núi Dành cao khoảng 117 mét,có lối đi dễ dàng với 345 bậc thang gạch,thuận lợi cho việc chinh phục đỉnh núi.

Núi Dành - Điểm du lịch tâm linh sinh thái tại Bắc Giang

Núi Dành - Điểm du lịch tâm linh sinh thái tại Bắc Giang

Được biết đến là dãy núi lớn thứ hai của huyện Tân Uyên,Núi Dành gây ấn tượng bởi vẻ đẹp thơ mộng,với rừng thông xanh tươi gần 50 năm tuổi,mang đến cảm giác như đang ở Đà Lạt. Dọc theo con đường lên đỉnh,du khách sẽ đắm chìm trong bức tranh phong cảnh nên thơ,tiếng thông reo hòa quyện với những cơn gió nhẹ,tạo nên không khí thư giãn tuyệt vời. 

Sau hành trình 345 bậc thang,bạn sẽ đến Đền Dành,nơi ngôi đền ẩn mình giữa bốn bề cây cối xanh tươi. Với gam màu cổ kính hòa quyện cùng không gian yên bình,Đền Dành mang đến vẻ đẹp rất riêng,tạo nên trải nghiệm độc đáo mà ít điểm đến nào ở Bắc Giang có được.

14. Chùa My Điền

Tại khu phố My Điền,thị trấn Nếnh,huyện Việt Yên,tỉnh Bắc Giang,ngôi cổ tự Thánh Minh tự nổi bật với vẻ đẹp cổ kính hiếm có. Được xây dựng từ thời Lý,chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu nhưng vẫn giữ nguyên giá trị lịch sử. Đặc biệt,bậc thềm đá xanh hình rồng ở cửa chùa là một minh chứng độc đáo cho kiến trúc thời kỳ này,với những đường nét sinh động và tinh tế,thể hiện sự kết nối giữa nghệ thuật điêu khắc và tín ngưỡng Phật giáo.

Chùa My Điền có kiến trúc “tiền Thần hậu Phật”,tạo thành một quần thể di tích hài hòa và cổ kính. Trong khuôn viên chùa,nhiều công trình vẫn được bảo lưu,bao gồm Tam quan,nhà Tổ,nhà khách và tòa Tam bảo. Giữa sân chùa,tấm bia đá từ thời Lê khắc ghi về việc công đức tạo dựng chùa là một di sản quý giá.

Chùa không chỉ là nơi thờ tự mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa tôn giáo,tổ chức các lễ hội truyền thống,như hội lệ vào mùng 1 tháng 2 âm lịch,với các nghi lễ phong phú. Được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh từ năm 2004,chùa My Điền vẫn giữ được những giá trị văn hóa đặc sắc giữa lòng khu công nghiệp sầm uất,là địa điểm hấp dẫn cho du khách thập phương tới chiêm bái và tìm hiểu văn hóa tâm linh.

15. Đình Hả

Đình Hả tọa lạc tại thôn Đình Hả,xã Tân Trung,huyện Tân Yên,tỉnh Bắc Giang,cách trung tâm huyện khoảng 7 km về phía Bắc và thành phố Bắc Giang 22 km về phía Tây Bắc. Đây là một trong những di tích lịch sử quan trọng,ghi dấu mốc lịch sử của cuộc Khởi nghĩa Nông dân Yên Thế do thủ lĩnh Lương Văn Nắm phát động vào ngày 16/3/1884. Sau khi đánh bại quân Pháp tại Đức Lân,ông đã trở về đình Hả để tổ chức lễ tế cờ,đánh dấu khởi đầu cho cuộc kháng chiến kéo dài gần 30 năm.

Đình Hả được công nhận là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia năm 1994 và được Thủ tướng Chính phủ cấp Bằng xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt vào năm 2012. Theo truyền thuyết,ngôi đình có nguồn gốc từ thời Lê - Nguyễn vào thế kỷ XVII,khi người dân xã Thế Lộc (nay là xã Tân Trung) hợp sức xây dựng để thờ các vị thần,bao gồm cả thủ lĩnh Lương Văn Nắm. Sau nhiều lần bị tàn phá,ngôi đình hiện tại được xây dựng lại bởi Hoàng Hoa Thám trong thời kỳ tạm hòa với quân Pháp.

Đình Hả được thiết kế theo lối kiến trúc “Tiền Thần,hậu Phật”,với đình ở phía trước và chùa cách đó khoảng 80m,tạo nên không gian thiêng liêng và tĩnh mịch. Xung quanh cụm di tích là khu rừng Lim xanh cổ thụ hàng trăm năm tuổi,mang lại không khí trong lành và tôn nghiêm,là điểm đến lý tưởng cho du khách yêu thích lịch sử và văn hóa.

16. Chùa Tứ Giáp

Chùa Tứ Giáp là di tích lịch sử và nghệ thuật cấp quốc gia,được xây dựng từ thời Lê (1771-1773) với tên gọi ban đầu là Đại Phúc. Ngôi chùa có kiến trúc nội công ngoại quốc,bao gồm 7 gian với tiền đường,trung đường,thượng điện và các công trình phụ như nhà tổ,nhà khách,tam quan và gác chuông.

Tuy nhiên,vào năm 1885,thực dân Pháp đã phá hủy phần lớn công trình. Năm 1886,nhân dân xã Nhã Nam cùng hai xã Dương Lâm và Lý Cốt đã chung tay phục dựng chùa theo lối kiến trúc tiền thần hậu Phật.

Một sự kiện đáng nhớ diễn ra vào ngày 11/3/1948,khi Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Công an Khu XII,bức thư được mở tại chính chùa Tứ Giáp,trong đó có những điều dạy về tư cách người công an cách mạng. Trải qua thời gian và chiến tranh,chùa đã bị xuống cấp.

Đến ngày 9 tháng 1 năm 2021,UBND thị trấn Nhã Nam tổ chức lễ động thổ để tu bổ,tôn tạo chùa với kinh phí khoảng 40 tỷ đồng,trong đó gần 23 tỷ đồng được quyên góp từ Bộ Công an,Tỉnh ủy,UBND tỉnh Bắc Giang và nhân dân địa phương. Đến nay,giai đoạn 1 của dự án tu bổ đã hoàn thành với các công trình như Nhà Tổ,Tam Bảo,nhà Mẫu,cổng Tam quan và gác chuông.

Giai đoạn 2 đang được thi công,bao gồm vườn cây lưu niệm và các hạng mục khác,dự kiến hoàn thành vào dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Bác Hồ có Sáu điều dạy Công an nhân dân. Sau lễ khánh thành,chùa Tứ Giáp trở thành địa chỉ về nguồn,là nơi cán bộ,chiến sĩ Công an nhân dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

17. Chùa Kem

Chùa Kem (hay còn gọi là Sùng Nham tự) là một ngôi chùa cổ gần 400 năm tuổi tọa lạc bên dãy núi Nham Biền,thuộc xã Nham Sơn,huyện Yên Dũng,Bắc Giang. Với vẻ đẹp thanh tịnh,chùa không chỉ là một di sản văn hóa mà còn lưu giữ nhiều dấu ấn lịch sử. Được xây dựng vào năm Đinh Hợi (1527,1587 hoặc 1647) dưới sự dẫn dắt của bà Hoàng Thị Tuế,ngôi chùa từng trải qua nhiều lần trùng tu và mở rộng.

Chùa Kem - nét độc đáo của di tích lịch sử bên dãy núi Nham Biền

Chùa Kem - nét độc đáo của di tích lịch sử bên dãy núi Nham Biền

Được xây dựng trong khung cảnh tuyệt đẹp,ba mặt của chùa được bao bọc bởi núi non,bên cạnh là dòng suối uốn lượn và xa xa là sông Cầu. Hiện nay,chùa có năm hạng mục chính: Tam Quan,Tam Bảo,Nhà Tổ,Vườn Tháp và Nhà Mẫu,mang đậm phong cách kiến trúc thời Lê và Nguyễn.

Ngoài giá trị về kiến trúc,chùa Kem còn là chứng nhân lịch sử quan trọng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Nơi đây từng là căn cứ của nghĩa quân,đặc biệt trong giai đoạn 1906-1908 khi Hoàng Hoa Thám đóng quân. Hàng năm,lễ hội chùa Kem diễn ra vào ngày 21/8 âm lịch,thu hút nhiều du khách và phật tử.

Chùa Kem đã được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt vào năm 2012,trở thành một trong 23 điểm di tích quan trọng thuộc cụm di tích lịch sử Những địa điểm khởi nghĩa Yên Thế,thể hiện giá trị văn hóa và lịch sử của dân tộc.

18. Lăng họ Đoàn

Lăng họ Đoàn cách trung tâm thành phố Bắc Giang khoảng 12 km về phía nam,tọa lạc trên núi Hình Nhân,thuộc xã Vân Trung,huyện Việt Yên. Được xây dựng vào thế kỷ XVIII dưới triều vua Lê Hiển Tông,lăng là nơi an nghỉ của Đoàn Công Bạo,một vị quan có công lớn trong triều đại. Khu lăng có kiến trúc cổ kính với trục chính hình chữ nhất,bao gồm các hạng mục như cổng lăng,khu thờ lộ thiên và Tiêu Dao Am,tạo nên một không gian trang nghiêm.

Mặc dù trải qua thời gian và chiến tranh,nhiều công trình vẫn được bảo tồn,thể hiện nghệ thuật kiến trúc đặc trưng của thời Lê. Tuy nhiên,sự xâm thực của thiên nhiên và tác động từ chiến tranh đã khiến một số phần bị hư hỏng,và việc bảo vệ di tích còn gặp khó khăn do vị trí xa khu dân cư.

Nhờ vào sự quan tâm của dòng họ và chính quyền địa phương,các hạng mục hư hỏng đã được phục chế,đồng thời kế hoạch khôi phục và bảo vệ lăng cũng đang được thực hiện. Ngày 31/12/2015,lăng họ Đoàn được xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa,mở ra cơ hội để gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa của tổ tiên cho các thế hệ mai sau.

19. Đền Thượng

Đền Thượng còn được biết đến là Đền thờ Thạch Linh Thần Tướng,tọa lạc trên đỉnh núi Phượng Hoàng thuộc dãy Bổ Đà,xã Tiên Sơn,huyện Việt Yên,Bắc Giang. Với lịch sử hình thành lâu đời,đền được xây dựng từ thời kỳ xa xưa và tu bổ qua nhiều giai đoạn,đặc biệt là thời Nguyễn (thế kỷ XIX-XX).

Truyền thuyết dân gian kể về Thạch Tướng,vị thần anh dũng đã giúp vua Hùng Tạo Vương đánh bại giặc Man. Sau khi lập công,Thạch Tướng cưỡi voi trở về quê hương,rồi bay thẳng lên trời từ đỉnh núi Phượng Hoàng,để lại sự tôn kính trong lòng nhân dân.

Đền Thượng không chỉ nổi tiếng với kiến trúc độc đáo mà còn là một phần của quần thể di tích liên hoàn cùng với chùa Bổ Đà,đền Trung và nhiều di tích khác,phản ánh sâu sắc lịch sử đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc. Khung cảnh nơi đây được bao bọc bởi cây cối xanh tươi và núi non hùng vĩ,tạo nên không gian linh thiêng và thanh tịnh. Đền Thượng hiện nay vẫn giữ gìn những giá trị văn hóa và tâm linh,là điểm đến không thể bỏ qua cho những ai yêu thích di sản văn hóa truyền thống Việt Nam.

20. Hồ Cấm Sơn

Hồ Cấm Sơn Bắc Giang là một viên ngọc giữa lòng thiên nhiên,với không gian rộng lớn bao la và những hòn đảo nhỏ xinh đẹp nổi bật trên mặt nước. Nơi đây là chốn sinh sống của cộng đồng người Kinh,Tày và Nùng,tạo nên bức tranh văn hóa đa dạng giữa những cảnh sắc yên bình. Khi du khách ghé thăm hồ,họ sẽ được đắm chìm trong vẻ đẹp tĩnh lặng,đặc biệt là vào mỗi buổi sáng sớm,khi làn sương mờ bao phủ mặt hồ,tạo nên cảnh tượng như chốn bồng lai.

Hồ Cấm Sơn không chỉ đơn thuần là một công trình thủy lợi lớn,mà còn là một tuyệt tác thiên nhiên. Tọa lạc ở độ cao khoảng 300m so với mực nước biển,hồ có tổng diện tích ban đầu khoảng 2.600 ha,có thể mở rộng lên tới 3.000 ha trong mùa mưa. Với chiều dài hơn 30km và độ sâu tối đa lên đến 47m,hồ mang trong mình vẻ đẹp hùng vĩ,dễ dàng khiến bất kỳ ai ghé thăm đều phải trầm trồ.

Vẻ đẹp hồ Cấm Sơn nhìn từ trên cao

Vẻ đẹp hồ Cấm Sơn nhìn từ trên cao

Bao quanh hồ là những ngọn núi xanh ngát,tạo nên khung cảnh thơ mộng. Vào mùa khô,bãi bồi dày phù sa hiện lên,nơi người dân trồng trọt hoa màu. Đến mùa mưa,hồ lại biến hình với hàng trăm hòn đảo nhấp nhô,tựa như một Vịnh Hạ Long thu nhỏ,hài hòa giữa thiên nhiên hùng vĩ của núi rừng.

Chưa dừng lại ở đó,lòng hồ Cấm Sơn còn là nơi sinh sống của nhiều loài thủy sản quý giá như tôm,cua và các loại cá đặc sản. Người dân nơi đây thường kể những câu chuyện thú vị về những mẻ cá “khủng” mà họ bắt được trong những đêm trăng,nhấn mạnh sự phong phú của cuộc sống nơi đây.

Từ trên cao,hồ Cấm Sơn hiện ra như một bức tranh thủy mặc tuyệt đẹp với mặt nước trong xanh,yên ả và những hòn đảo rải rác,cùng với hình ảnh những chiếc thuyền nhỏ của ngư dân. Khung cảnh nơi đây gợi nhớ đến Vịnh Hạ Long,với làn gió nhẹ nhàng như một làn sóng mát rượi,khiến lòng người thêm phấn khởi. 

21. Chùa Phúc Lâm

Chùa Phúc Lâm là một ngôi chùa cổ kính nằm trên dải đất linh thiêng cách khu dân cư khoảng 500 mét,từng là nơi rừng rậm trù phú với nhiều cây cổ thụ và thảo mộc quý hiếm. Được xây dựng vào thời vua Lê Trung Hưng (1681 – 1704) bởi Tổ Thiện Phát dòng Lâm Tế,chùa đã trở thành nơi thờ phụng và bảo tồn những giá trị văn hóa Phật giáo trong suốt hàng trăm năm.

Dù trải qua nhiều thăng trầm,đặc biệt là sau biến cố năm 1945 khi chùa bị phá hủy,người dân địa phương đã chung tay xây dựng lại chùa vào năm 1954. Tuy nhiên,việc thiếu thầy trụ trì trong nhiều năm đã khiến chùa xuống cấp. Năm 2002,hòa thượng Thích Thiếu Hương đã được mời về trụ trì và quyết tâm phục hồi chùa thành Trung tâm Phật giáo của huyện Việt Yên.

Từ năm 2004 đến 2016,nhờ sự đóng góp của phật tử và cộng đồng,nhiều công trình mới như Tam bảo,nhà tổ,và tượng Quán Thế Âm đã được xây dựng,biến chùa Phúc Lâm thành một trung tâm tín ngưỡng quan trọng. Trong tương lai,chùa dự kiến sẽ tiếp tục phát triển các công trình phục vụ nhu cầu tín ngưỡng và sinh hoạt của người dân và du khách.

>> Tham khảo: Tổng hợp ảnh đẹp về những địa điểm du lịch Bắc Giang

22. Khu Di Tích Lịch Sử Địa Điểm Chiến Thắng Xương Giang

Thành Xương Giang là một di tích lịch sử cấp quốc gia,nổi bật với những trận đánh oanh liệt của quân và dân ta,đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống quân Minh. Được xây dựng từ thế kỷ XV,thành cổ Xương Giang có hình chữ nhật,dài 600m và rộng 450m,được bao quanh bởi hệ thống hào phòng thủ vững chắc.

Khu Di Tích Lịch Sử Địa Điểm Chiến Thắng Xương Giang

Khu Di Tích Lịch Sử Địa Điểm Chiến Thắng Xương Giang

Năm 2009,nơi đây được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt,tôn vinh tinh thần yêu nước và lòng kiên cường của dân tộc. Thành Xương Giang không chỉ ghi lại chiến công vang dội của nghĩa quân Lam Sơn do Trần Nguyên Hãn lãnh đạo,mà còn là biểu tượng cho khát vọng độc lập và chủ quyền.

Đến tham quan thành,du khách sẽ không thể không ấn tượng với kiến trúc độc đáo,các công trình như giếng Phủ với hoa văn tinh xảo và cổng nghi môn kiên cố,mang đến cảm giác huyền bí và thiêng liêng. Hãy lên đường khám phá Xương Giang để hiểu thêm về một phần lịch sử vẻ vang của dân tộc.

23. Chùa Vĩnh Nghiêm

Chùa Vĩnh Nghiêm (còn được gọi là chùa Đức La) tọa lạc tại thôn Quốc Khánh,xã Trí Yên,huyện Yên Dũng,Bắc Giang,là một trong những ngôi chùa cổ nhất và có giá trị văn hóa đặc sắc tại Việt Nam. Nằm giữa không gian yên bình với những hàng tre xanh mướt,chùa không chỉ là nơi thờ Phật mà còn thờ Trúc Lâm Tam Tổ của triều đại nhà Trần.

Chùa Vĩnh Nghiêm – danh lam cổ tự của Bắc Giang

Chùa Vĩnh Nghiêm – danh lam cổ tự của Bắc Giang

Xây dựng từ thời Lý,chùa được trùng tu vào thế kỷ XIII bởi Phật hoàng Trần Nhân Tông,trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng của Thiền phái Trúc Lâm. Với hơn 700 năm tuổi,chùa vẫn giữ được vẻ đẹp cổ kính và uy nghi,tọa lạc bên dòng Lục Nam và Lục Thương,phía trước là ngã ba sông và phía sau là núi Cô Tiên.

Kiến trúc chùa Vĩnh Nghiêm hòa quyện giữa truyền thống và hiện đại,với mái ngói cong vút và những chạm khắc tinh xảo. Nơi đây lưu giữ nhiều hiện vật quý giá như tượng Phật,bia đá và đồ thờ,thu hút đông đảo du khách đến tham quan và cầu nguyện mỗi năm. Các công trình kiến trúc nổi bật như cổng tam quan,nhà Tổ và gác chuông tạo nên không gian thanh bình và tôn nghiêm,phản ánh sự hưng thịnh của Phật giáo thời Trần.

24. Đình Thổ Hà

Đình Thổ Hà là một trong những ngôi đình cổ hiếm hoi còn lưu giữ được niên đại. Được xây dựng vào năm 1685 và vẫn đứng vững cho đến ngày nay,trở thành điểm đến nổi bật trong hành trình du lịch Bắc Giang.

Kiến trúc của đình Thổ Hà mang một vẻ đẹp độc đáo với ba nếp nhà được bố trí hài hòa: Tiền Tế,Đại Đình và Hậu Cung,mỗi nếp nhà đều thể hiện những giá trị văn hóa và tín ngưỡng đặc sắc. Đến đây,du khách không chỉ chiêm ngưỡng sự tinh xảo trong từng chi tiết kiến trúc mà còn cảm nhận được bầu không khí linh thiêng và bình yên,nơi lưu giữ những câu chuyện lịch sử quý giá của vùng đất này.

25. Chùa Bổ Đà

Chùa Bổ Đà là một trong những điểm du lịch tâm linh nổi tiếng nhất miền Bắc,có lịch sử từ thời nhà Lý và được trùng tu dưới triều vua Lê Dụ Tông. Nằm ở phía Bắc chân núi Hương Hoàng,chùa mang kiến trúc độc đáo với những vật liệu như gạch nung và đất,cùng không gian u tịch,linh thiêng bao quanh bởi cây cối xanh tươi.

Khu di tích bao gồm nhiều hạng mục như chùa Tứ Ân,vườn tháp với 110 ngôi tháp cổ,là nơi an táng xá lị của 1214 tăng ni Phật tử. Chùa Bổ Đà còn nổi bật với bộ ván kinh Phật cổ nhất Việt Nam và được công nhận là Di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia đặc biệt. Không chỉ thu hút khách tham quan nhờ vẻ đẹp kiến trúc,chùa còn là nơi gìn giữ nhiều giá trị văn hóa và lễ hội,khiến nơi đây trở thành điểm đến không thể bỏ qua khi khám phá Bắc Giang.

26. Di tích Lưu niệm Bác Hồ về thăm Cẩm Xuyên,xã Xuân Cẩm,huyện Hiệp Hòa

Di tích lưu niệm Bác Hồ về thăm Cẩm Xuyên tọa lạc bên bãi phù sa ven sông Cầu,nổi bật với vườn vải cổ thụ gần 100 năm tuổi. Nơi đây từng là khu đình Cẩm Xuyên,nơi diễn ra nhiều hoạt động của Ban Cán sự Đoàn cải cách vào tháng 02/1955.

Di tích Lưu niệm Bác Hồ về thăm Cẩm Xuyên,xã Xuân Cẩm,huyện Hiệp Hòa

Di tích Lưu niệm Bác Hồ về thăm Cẩm Xuyên,xã Xuân Cẩm,huyện Hiệp Hòa

Ngày 08/02/1955,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến làm việc và thăm bà con nông dân,đồng thời tham dự Hội nghị Tổng kết cải cách ruộng đất đợt II,đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của cách mạng Việt Nam. Năm 2001,di tích được xếp hạng di tích lịch sử,văn hóa cấp tỉnh.

Hiện nay,khu lưu niệm rộng 3.674,8 m² được xây dựng với nhà bia,sân vườn,cổng vào và tường bao,ghi dấu ấn lịch sử và lòng kính trọng của nhân dân đối với Bác Hồ.

Bài viết trên gợi ý 26 di tích lịch sử tại Bắc giang nhất định nên đến một lần để khám phá. Mong rằng,các di tích trên sẽ hữu ích cho bạn có một chuyến du lịch Bắc Giang thú vị!

Bắc Ninh 13957 lượt xem

63Stravel

Nguồn :

Link liên kết

Tour bản địa Xem tất cả

THE TRANS - VIETNAM TOUR 2025

11 DAY 10 NIGHT

Liên hệ đ

Xem chi tiết

GIAO LƯU VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG ĐÀ LẠT

Lâm Đồng

18h00 - 21h00

300,000 đ

Xem chi tiết

TOUR NGOẠI THÀNH ĐÀ LẠT

Lâm Đồng

8h00 - 16h00

600,000 đ

Xem chi tiết

CHINH PHỤC LANGBIANG – CRAZY HOUSE – THÁC DATANLA

Lâm Đồng

8h00 - 16h00

500,000 đ

Xem chi tiết

Check in những địa điểm HOT tại Đà Lạt

Lâm Đồng

8h00 - 16h00

600,000 đ

Xem chi tiết

Tour Khám Phá Địa Điểm Mới 2024 Tại Đà Lạt

Lâm Đồng

8h00 - 16h00

600,000 đ

Xem chi tiết

Săn mây đón Bình minh tại Đà Lạt

Lâm Đồng

4h00 - 10h00

400,000 đ

Xem chi tiết

3 ĐẢO DELUXE

Khánh Hòa

8h00 - 15h00

550,000 đ

Xem chi tiết

MINI BEACH - VỊNH SAN HÔ

Khánh Hòa

8h00 - 15h00

650,000 đ

Xem chi tiết

Lặn biển SeaWalking

Khánh Hòa

8h30 - 15h00

1,250,000 đ

Xem chi tiết

Điệp Sơn - Dốc Lết

Khánh Hòa

8h - 16h30

680,000 đ

Xem chi tiết

Đà Lạt Ngàn Hoa

Lâm Đồng

7h00 - 16h00

790,000 đ

Xem chi tiết

MINI BEACH - HÒN TẰM RESORT

Khánh Hòa

8h00 - 15h00

780,000 đ

Xem chi tiết

Đảo Bình Hưng

Khánh Hòa

7h30 - 15h00

670,000 đ

Xem chi tiết

CITY NHA TRANG

Khánh Hòa

8h00- 15h00

550,000 đ

Xem chi tiết

4 ĐẢO NHA TRANG

Khánh Hòa

8h00 - 15h00

650,000 đ

Xem chi tiết

Hòn Tằm Resort

Khánh Hòa

8h00 - 15h00

790,000 đ

Xem chi tiết

3 ĐẢO VIP HÒN TẰM

Khánh Hòa

8h00 - 15h00

680,000 đ

Xem chi tiết

LẶN BIỂN NHA TRANG

Khánh Hòa

8:00 - 15h00

900,000 đ

Xem chi tiết

HANG RÁI - VƯỜN NHO - ĐỒNG CỪU

Khánh Hòa

7:30 - 15h

600,000 đ

Xem chi tiết

Điểm du lịch gần

Xem tất cả

Hồ Khuôn Thần

Khu du lịch nổi tiếng Khuôn Thần có vị trí tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Điểm đến nay cách Hà Nội khoảng 100km và cách thành phố Bắc Giang khoảng 50 km (phố Chũ). Từ trung tâm thị trấn Chũ rẽ trái khoảng 10 km, một khung cảnh tuyệt sắc hiện lên trước mắt. Hồ nước trong xanh soi bóng mây trời cùng với những hòn đảo nhấp nhô. Hồ Khuôn Thần không chỉ mang vẻ đẹp đơn thuần mà còn khiến du khách đắm say. Nơi đây mang vẻ đẹp giao hoà giữa khí – trời – đất. Một cảnh quan, môi trường sinh thái trong lành. Hồ Khuôn Thần hiện lên nổi bật giữa một bức hoạ thiên nhiên muôn màu sắc. Bức hoạ ấy được thuê dệt từ màu xanh bạt ngàn của rừng, trời, mây, non nước. Với diện tích khoảng 240ha, nơi đây được bao bọc bởi những rừng thông, chàm, keo tai tượng tươi tốt. Cảnh sắc ấy lại được điểm tô thêm bởi màu đỏ rực rỡ của những đồi vải đang vào mùa thu hoạch. Thêm vào đó là những rặng liệu nghiêng mình toả bóng. Nét đẹp của Hồ Khuôn Thần càng trở nên cuốn hút hơn bởi những hòn đảo to nhỏ nổi lên giữa mặt nước. Trên các đảo được phủ thông và các cây loại cây ăn quả khác nhau. Tạo hoá đã ban cho khu du lịch Khuôn Thần một cảnh sắc tuyệt tác. Đến nơi đây, du khách có thể thả hồn trên du thuyền. Lênh đênh giữa hồ, cảm nhận sự mênh mông, yên bình và đắm mình trong cảnh sắc thiên nhiên huyền ảo. Vẻ đẹp của trời, mây, non nước hoà quyện lại trước mắt. Khi lên tởi đỉnh đập nước hồ Khuôn Thần, du khách có thể cảm nhận thêm cảnh mênh mông, hùng vĩ, và thơ mộng của trùng điệp nủi rừng. Đặc biệt, vào mùa mưa, nước chảy từ đỉnh đập Khuôn Thần ào ào xuống thung lũng ven hồ tạo thành cảnh sắc ngoạn mục. Trên đường đi, du khách có thể dừng chân ghé thăm các đảo nổi. Trên các đảo này được trồng thông và các cây ăn quả: vải, nhãn,..Không giãn bao la bình yên, trữ tình và thi mộng. Ngồi trên những thảm cỏ xanh mát, dưới những hàng thông vi vu toả bóng. Hay ngả mình trên những chiếc võng đu đưa dưới những cây nhãn. Hoà mình trọn vẹn vào thiên nhiên, làn gió nhẹ thổi cuốn đi hết những ưu phiền. Mỗi nơi sẽ có những thời điểm riêng để phô ra trọn vẹn những vẻ đẹp vốn có của mình. Với hồ Khuôn Thần, nơi đây có không khí mát mẻ, trong lành nên bạn có thể đến vào mọi thời điểm trong năm. Tuy nhiên, mùa hè có lẽ là mùa đến đây lý tưởng nhất. Trái ngược với cái nắng nóng bụi bặm của thành phố. Vào mùa hè, các bạn có thể dành thời gian để đến với khu Khuôn Thần. Nơi đây mang lại cho bạn cái mát lạnh của hồ cùng không khí trong lành. Không những thế, bạn còn được ngắm nhìn sắc đỏ của đồi vải rực rỡ, thưởng thức những trái vải thơm ngon. Một cảm giác thoải mái, dễ chịu tại nơi đây. Không gian, cảnh vật, con người nơi đây đã khiến khu du lịch Hồ Khuôn Thần trở thành một điểm đến lý thú. Trải nghiệm Hồ Khuôn Thần chắc chắn sẽ là một kỷ niệm khó quên với vẻ đẹp của con người, cảnh sắc mộng mơ mang sức hấp dẫn kỳ lạ giữa chốn sơn trang. Nơi đây chính là một điểm đến lý tưởng dành cho những ai yêu thích, khám phá thiên nhiên. Cũng là nơi dừng chân dành cho những ai muốn tìm một nơi bình yên, thư giãn.

Bắc Ninh

Tháng 3 đến tháng 10

7033 lượt xem

Rừng nguyên sinh Khe Rỗ

Mỗi tỉnh thành Việt Nam đều được ưu ái cho những cảnh sắc thiên nhiên phong phú, các danh lam thắng cảnh độc đáo. Bắc Giang cũng không nằm ngoài sự ưu ái đó. Nhắc đến Bắc Giang là nhắc đến các khu di tích tâm linh như chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà, đình Lỗ Hạnh, Lăng Dinh Hương, Lăng Họ Ngọ gắn với nền văn hóa truyền thống độc đáo và lâu đời. Nhắc đến Bắc Giang là nhắc đến các địa điểm du lịch nổi tiếng như Đồng Cao, Suối Nước Vàng, Hồ Cấm Sơn,… và không thể không nói đến Rừng nguyên sinh Khe Rỗ. Sở dĩ nơi đây có cái tên như vậy là do đặc trưng địa hình với những khe sâu, núi cao, rừng già và đặc biệt khi thời tiết thay đổi thì ở Khe Rỗ lại vang lên những âm thanh như thác đổ. Chính vì vậy người dân nơi đây mới gọi tên là "Khuổi Lồ" đọc theo tiếng phổ thông có nghĩa là Khe Rỗ. Nằm trong khu bảo tồn Tây Yên Tử, cảnh sắc thiên nhiên ở rừng nguyên sinh Khe Rỗ vô cùng hoang sơ và có một chút bí ẩn đủ sức làm các du khách tò mò. Chính vì thế, nơi đây nhanh chóng trở thành điểm đến thú vị đối với những du khách ưa khám phá và muốn thư giãn cùng thiên nhiên. Rừng nguyên sinh Khe Rỗ có tổng diện tích tự nhiên 7.153ha, nằm trong ba lưu vực Khe Rỗ, Khe Đin và Khe Nước Vàng. Rừng ở đây rất phong phú về động, thực vật đặc biệt là những loài quý hiếm. Đặc biệt, rừng nguyên sinh Khe Rỗ rất nổi tiếng với cây đa tình đã trên 500 tuổi, vừa là nơi hò hẹn, vừa là nơi kết duyên, vừa là nơi chứng kiến biết bao câu chuyện tình đẹp của những chàng trai, cô gái An Lạc. Do đặc điểm địa hình mà nơi đây nhanh chóng trở thành một khu du lịch nghỉ dưỡng, sinh thái cuối tuần hấp dẫn. Đến Khe Rỗ, du khách không chỉ được đắm mình trong làn nước suối trong vắt, mà còn được trải nghiệm nhiều hoạt động vui chơi thú vị, đặc biệt là hoạt động trải nghiệm cuộc sống, văn hóa của đồng bào. Hiện trong bản có nhiều hộ gia đình có dịch vụ lưu trú qua đêm cho khách du lịch với sức chứa vài chục khách mỗi đêm.

Bắc Ninh

Từ tháng 1 đến tháng 12

7860 lượt xem

Đền Suối Mỡ

“Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ”, hàng năm vào ngày 30-3 và 1-4 âm lịch, nhân dân các dân tộc vùng chân núi sườn Tây Yên Tử, huyện Lục Nam (Bắc Giang) lại nô nức trẩy hội Suối Mỡ. Lễ hội tưởng nhớ vị nữ thần Mỵ Nương Quế Hoa được suy tôn là Thánh Mẫu Thượng Ngàn đã có công khai phá đất đai, khơi dòng suối mát, dạy dân cày cấy để có cuộc sống ấm no. Theo các tài liệu xưa ghi chép lại, đền Suối Mỡ thờ Thánh Mẫu Thượng Ngàn từng được sắc phong: “Thần thông quảng đại càn, thập nhị tôn nàng Vực Mỡ”. Mẫu Thượng Ngàn được thờ ở Suối Mỡ là Mỵ Nương Quế Hoa, con Vua Hùng Định Vương và Hoàng hậu An Nương. Hoàng hậu sinh ra nàng bên gốc quế rồi mất. Lớn lên, Quế Hoa luôn nhớ thương mẹ nên đã đi vào rừng sâu để tìm dấu vết người mẹ hiền. Tới khu thung lũng là xã Nghĩa Phương ngày nay, vùng đất phẳng phiu rộng rãi nhưng cây cỏ héo tàn, xơ xác do thường xuyên hạn hán, Quế Hoa nghĩ rằng phải tìm nước về cho người dân sinh sống. Sau nhiều ngày đường vất vả, công chúa bắt gặp hồ nước mênh mông, đang băn khoăn tìm cách mở đường đưa dòng nước mát về nơi khô hạn, thì được một cụ già râu tóc bạc phơ cho quyển sách luyện phép lạ cứu đời. Quế Mỵ Nương bèn lập một hành cung làm nơi tu luyện và đã thành công. Nàng xoè năm ngón tay ấn xuống tạo thành sức mạnh kỳ lạ khiến núi nứt ra, đá ầm ầm xô chuyển, nước từ các khe ào ào dốc xuống vùng đất thấp rồi chảy thành dòng êm ả. Từ đó cây cối mọc lên, chim chóc kéo tới, đời sống nhân dân ngày càng no ấm. Khi đó, Mỵ Nương Quế Hoa cùng 12 thị nữ bay về trời trên đám mây ngũ sắc. Để tưởng nhớ công ơn bà, dân bản lập bàn thờ tại nơi bà đưa nước nguồn về và gọi là đền Suối Mỡ. Đời sau đều tôn là Thánh Mẫu Thượng Ngàn. Suối Mỡ quanh năm nước chảy rì rào bắt nguồn từ khu vực Đá Vách và Hố Chuối rồi xuôi dòng qua năm bậc thác mẹ, thác con nối tiếp. Tương truyền đó chính là dấu năm ngón tay của nàng công chúa Mỵ Nương. Dọc theo con suối thiêng, nhân dân xây dựng một quần thể di tích gồm: Đền Hạ, đền Trung và đền Thượng. Dấu tích cũ cho biết, quần thể di tích có niên đại từ thời Lê – Mạc và đã được tu sửa, tôn tạo qua nhiều giai đoạn. Đến với lễ hội Suối Mỡ là đến với vẻ đẹp sơn thuỷ hữu tình. Với quãng đường 7 km, du khách có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh nơi đây với nước suối trong lành và cây lá xanh tươi cùng hệ thống công trình: Đền Hạ, Đền Trung, Đền Thượng, Bãi Quần Ngựa, Đền Trần, Khu Ba Dinh Bẩy Nền, Chùa Hòn Trứng, Đình Xoan và chùa Hồ Bấc… Đền Thượng nằm ở lưng chừng núi Vực Mỡ. Từ đây có thể bao quát cả khu đền Trung, Đền Hạ và một phần thung lũng xã Nghĩa Phương. Đền vốn được tạo ra từ mái đá của sườn núi. Mặt nhìn xuống Suối Mỡ chảy từ thác Thùm Thùm. Từ đây trở xuống Suối Mỡ rộng dần và có nhiều thác lớn nhỏ. Đền Trung ở chân núi Vực Mỡ thuộc hữu ngạn suối này, có không gian rộng rãi thoáng mát. Nước suối trong mát chảy dài xuống Đền Hạ. Đền Hạ quy mô lớn hơn nằm ở giữa thung lũng. Trong ngày hội, đây là nơi tập trung khách thập phương các nơi về lễ đền. Lễ hội đền Suối Mỡ là ngày hội văn hoá của nhân dân các dân tộc thuộc nhiều làng, xã dưới chân núi thuộc sườn tây Yên Tử (Lục Nam). Các làng Dùm, làng Quỷnh thuộc xã Nghĩa Phương từ thượng cổ tới nay, vào ngày hội đều có lễ rước sắc, bài vị và lễ vật về đền Suối Mỡ. Ngoài ra, hội đền còn tổ chức thi bắn cung, võ dân tộc, đấu vật, cờ bỏi, đánh đu, chọi gà... Một nét văn hoá độc đáo và đặc sắc không thể thiếu trong lễ hội Suối Mỡ, gắn với nhân vật thờ chính ở ngôi đền là nghi lễ hầu Thánh trong ngày lễ hội. Những năm gần đây được sự quan tâm và chỉ đạo của ngành văn hoá, lễ hội Suối Mỡ còn tổ chức liên hoan nghi lễ chầu văn, nhằm tôn vinh bảo tồn nét đẹp văn hoá thờ Mẫu.

Bắc Ninh

Từ tháng 1 đến tháng 12

7626 lượt xem

Khu du lịch Suối Mỡ

Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ nằm trên tuyến đường tâm linh từ TP Bắc Giang đến thị trấn Thanh Sơn (Sơn Động) kết nối với nhiều khu, điểm du lịch hấp dẫn như: Chùa Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng); khu du lịch tâm linh - sinh thái Tây Yên Tử, Khe Rỗ (Sơn Động), đồng thời tiếp giáp với hai tỉnh Quảng Ninh và Hải Dương trở thành điểm du lịch cầu nối trung chuyển với các điểm du lịch trong quần thể di tích - danh thắng phía Đông và Tây Yên Tử, cùng di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc và các điểm du lịch khác của 3 tỉnh. Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng, gồm hệ thống 3 ngôi đền chính: Hạ - Trung - Thượng thờ Thánh Mẫu Thượng ngàn công chúa Quế Mị Nương con của vua Hùng Vương thứ IX - người có công khai mở ra vực mỡ, dẫn nước nhập điền, dạy nhân dân cách trồng trọt chăn nuôi. Đền Suối Mỡ với những nét cổ kính và những giá trị văn hóa lịch sử được lưu giữ tại đây đã được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1988. Lễ hội đền Suối Mỡ diễn ra hằng năm vào ngày 30 tháng 3 và mồng 1, mồng 2 tháng 4 Âm lịch nhằm cầu mong mùa màng tốt tươi và cũng là dịp để mọi người tỏ lòng biết ơn với công chúa Quế Mỵ Nương thu hút hàng nghìn du khách thập phương đến cầu phúc, cầu tài... Lễ hội mang đậm bản sắc dân tộc đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia năm 2015. Cùng đó, Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ còn có những di tích phụ cận khác như: Đền Trần, đền Cậu Bé Lệch, đền Cô Bé Cây Xanh, đền Quan...; những di tích lịch sử về một thời hào hùng của dân tộc như: Bãi Quần Ngựa, khu Ba Dinh Bảy Nền thời nhà Trần...; những di tích mang đậm dấu ấn Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử như: Chùa Hồ Bấc, chùa Hòn Trứng... tạo ra quần thể du lịch văn hóa, tâm linh Suối Mỡ. Một trong những điểm khiến bất cứ du khách nào đã từng đến Suối Mỡ không thể quên được đó chính là vẻ đẹp sinh thái của núi, rừng, suối, thác nơi đây. Nằm trải dài trên diện tích hàng ngàn ha, hệ thống rừng nguyên sinh của Suối Mỡ hết sức phong phú và đa dạng là điều kiện phát triển bền vững loại hình du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng. Suối Mỡ có hai hệ thống thác chính là thác Suối Mỡ và thác Thùm Thùm mang vẻ đẹp kỳ vĩ và nên thơ. Mỗi hệ thống thác lại có nhiều bậc thác hùng vĩ, mỗi bậc mỗi vẻ và đặc biệt dưới chân những bậc thác này đều có những bồn tắm tự nhiên hết sức kỳ thú. Đến với Suối Mỡ vào những buổi trưa hè nắng nóng, du khách sẽ được ngâm mình trong làn nước trong mát rồi để mặc cho làn nước từ trên cao dội xuống mơn man khắp cơ thể như một môn vật lý trị liệu giúp xua tan đi những căng thẳng mệt mỏi sau những ngày làm việc vất vả hay chọn cho mình không gian riêng trên những chiếc ghế, chiếc giường bằng đá để nghỉ ngơi và cảm nhận vẻ đẹp của núi rừng Suối Mỡ. Trong Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ còn có hồ chứa nước Suối Mỡ với tổng diện tích mặt nước hơn 30 ha, quanh lòng hồ là những bãi cỏ xanh bằng phẳng thích hợp cho các loại hình du lịch như: Dã ngoại cắm trại, câu cá, bơi thuyền… Cùng đó, với hệ thống rừng nguyên sinh, cao nguyên đá Suối Mỡ là điểm đến hấp dẫn của các bạn trẻ đam mê loại hình du lịch phượt, leo núi khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên nơi đây. Suối Mỡ được xác định là điểm nhấn quan trọng trong phát triển du lịch của tỉnh Bắc Giang, luôn được chú trọng đầu tư xây dựng. Thời gian qua, cơ sở hạ tầng Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ từng bước được hoàn thiện. Nhiều hạng mục đầu tư quan trọng với tổng số tiền hàng trăm tỷ đồng như: Công trình hồ Suối Mỡ, khu rừng bảo vệ cảnh quan Suối Mỡ, dự án đầu tư hạ tầng khu du lịch; nâng cấp sửa chữa đền Hạ, nhà hát Văn và khuôn viên; cầu treo Đền Trần; công trình tuyến đường du lịch quanh hồ Suối Mỡ; công trình tu bổ, tôn tạo khu di tích đền Trung…

Bắc Ninh

Từ tháng 1 đến tháng 12

7610 lượt xem

Chùa Đức La

Chùa Đức La (hay còn được biết đến là chùa Vĩnh Nghiêm) nằm trên một quả đồi thấp tại thông Đức La, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Chùa Đức La nằm cách trung tâm thành phố khoảng hơn 18 km. Có lẽ vì vậy, mà nơi đây không vướng những cái ồn ào, tấp nập của thành thị. Chùa được xây dựng từ đầu thời Lý Thái Tổ (1010-1028) cho tới thời vua Trần Thành Tông (1258-1278), chùa là nơi có nhiều vị cao tăng tu hành. Do đó, chùa đã được tu tạo nguy nga và lộng lẫy hơn. Chùa cũng là nơi mà vua Trần Nhân Tông đến thụ giới và sáng lập nên Thiền phái Phật giáo Việt Nam. Tại chùa Đức La, vua Trần Nhân Tông cùng Pháp Loa và Huyền Quang đã tạo nên Trúc Lâm Tam Tổ của thiền phái Trúc Lâm. Chùa Đức La nổi bật với phong cảnh thiên nhiên hữu tình, nên thơ. Chùa nằm trên một quả đồi thấp, ở nơi lưu hợp của sông Lục Nam và sông Thương. Bao quanh chùa là núi Cô Tiên. Một vị trí tuyệt vời, giao thoa giữa núi sông. Không ồn ào, nhộn nhịp, đứng ở nơi đây, con người như được hoà mình vào giữa mênh mông trời đất. Chùa Đức La được đặt trên khuôn viên rộng với diện tích khoảng 10000 mét vuông. Mở đầu là cổng Tam Quan và sau đó là Tiền Đường. Bước vào sân chùa, những dấu ấn xưa cũ vẫn còn được lưu trữ hiển hiện ngay trước mắt. Trong đó, tấm bia to 6 mặt năm Hoằng Định được xem là lâu đời nhất. Chùa Đức La có lối kiến trúc độc đáo, được lưu giữ từ hàng ngàn năm. Chùa có cấu trúc với 4 khối: chùa hình chữ “công”, hai bên có các dãy Tả vu, Hữu vu. Các dãy trong chùa đều rộng rãi gồm 18 gian. Chùa Đức La còn được biết đến bởi các giá trị điêu khắc tinh xảo, điệu nghệ. Thể hiện rõ nét nhất thông qua hệ thống tượng Phật được sắp xếp ở 3 khối nhà chính: Tam bảo, Nhà Tổ đệ nhất và Nhà Tổ đệ nhị. Bên cạnh đó, trong chùa còn lưu giữ lại nhiều di vật có giá trị. Phải kể đến bức hoành phi – câu đối cùng hệ thống văn bia với 8 tấm ghi lại tiến trình lịch sử và phát triển của Trung tâm Phật giáo Vĩnh Nghiêm.

Bắc Ninh

Từ tháng 1 đến tháng 12

7473 lượt xem

Di tích gần

Xem tất cả

Đền Đô và khu Lăng mộ các vị vua triều Lý

Khu lăng mộ và đền thờ các vị Vua triều Lý là chứng tích lịch sử về làng Cổ Pháp xưa và Đình Bảng ngày nay; là đất phát tích, tôn miếu thờ các vị vua triều Lý và còn là nơi an táng của các vị tiên vương và hoàng tộc nhà Lý. Triều Lý (1009 - 1225), từ khi Thái Tổ (Lý Công Uẩn) lên ngôi, dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long (1010), trải qua 8 đời vua, truyền ngôi được 216 năm, là giai đoạn nhà nước phong kiến độc lập tự chủ,vững mạnh, nhân dân được sống trong cảnh thái bình, thịnh trị. Khu di tích là công trình kiến trúc đặc sắc, với nghệ thuật điêu khắc đá, điêu khắc gỗ, tạc tượng thờ, kỹ thuật xây dựng đều đạt ở mức tinh xảo và nhiều giá trị di sản văn hóa phi vật thể được bảo lưu: tín ngưỡng thờ cúng, lễ hội, phong tục, tập quán.... Khu lăng mộ các vị vua triều Lý còn là di chỉ khảo cổ đặc biệt quan trọng phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học. Di tích có nhiều tên gọi khác, như Đền Đô, Cổ pháp Điện/Đền thờ Lý Bát Đế và Khu lăng mộ các vị Vua triều Lý (Thọ lăng Thiên Đức hay Sơn lăng cấm địa); bao gồm 2 khu vực chính là: Đền Đô và Khu lăng mộ các vị Vua triều Lý (Sơn lăng cấm địa). 1. Đền Đô: tổng diện tích 31.250m2, được phân chia thành khu nội thành và ngoại thành. Ngoại thành: rộng 26.910m2, gồm các hạng mục hồ bán nguyệt, nhà thủy đình, nhà văn chỉ bên phải, nhà võ chỉ bên trái. Nội thành: rộng 4.340m2, được chia thành khu nội thất và ngoại thất. Nội thất gồm: hậu cung, nhà chuyển bồng, nhà tiền tế, nhà bia và nhà để 8 kiệu thờ, nhà để 8 ngựa thờ ở hai bên. Ngoại thất gồm: phương đình, đền Vua bà, nhà chủ tế, nhà khách, nhà trưng bày, hội trường, ngũ long môn, sân đền, tượng voi, sấu đá… 2. Khu lăng mộ các vị Vua triều Lý (Sơn lăng cấm địa) Khu lăng mộ là nơi an nghỉ cuối cùng của các vua triều Lý, cách đền Đô khoảng 800m về phía Đông Bắc, nằm ở khu Ao Sen, thuộc cánh đồng phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ngày nay, khu lăng mộ các vị vua nhà Lý bao gồm những công trình sau: - Lăng vua Lý Thái Tổ - Lăng Lòng Chảo - Lăng Cả (vua Lý Thái Tông) - Lăng Hai (còn gọi là lăng Con) thờ vua Lý Thánh Tông - Lăng Con Voi (vua Lý Nhân Tông) - Lăng Đường Gio (vua Lý Thần Tông) - Lăng Đường Thuấn (vua Lý Anh Tông) - Lăng vua Lý Cao Tông - Lăng vua Lý Huệ Tông - Lăng bà Nguyên Phi Ỷ Lan - Lăng Phát Tích (lăng Bà Phạm Thị) Hiện vật ở di tích đền Đô và Khu lăng mộ các vị vua triều Lý còn lại không nhiều, có thể kể đến như 8 bài vị ghi tên các vua Lý được sơn son thếp vàng, chạm khắc vào thời Lê, đỉnh đồng, hạc đồng và một số bát đĩa có niên đại thời Lê. Đặc biệt còn một bia đá, niên đại 1604 do Tiến sỹ Phùng Khắc Khoan soạn ghi công đức các vua Lý. Ngoài ra, các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng dân gian và thờ các vị vua triều Lý vẫn được duy trì và trở thành truyền thống ở đền Đô. Hằng năm ở Đình Bảng diễn ra 3 lễ hội chính: - Hội chùa vào ngày mùng 7 tháng Giêng. - Hội đình vào ngày 15 tháng Hai, diễn ra 2 ngày chính (từ ngày 14 đến ngày 15 tháng Hai). - Hội đền vào ngày 15 tháng Ba, được diễn ra tại đền Đô. Với giá trị đặc biệt, di tích lịch sử Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Lý được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt ngày 31/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ. Nguồn: Cục Di sản văn hóa

Bắc Ninh 7735 lượt xem

Xếp hạng : Di tích quốc gia đặc biệt Mở

Đình Vân Cốc Xã Vân Trung

Đình Vân Cốc hay còn có tên nôm là đình Bài Cả, nhân dân trong vũng thường gọi là đình Bài. Ngôi đình Bài Cả xưa kia thờ chung thành hoàng đức thánh Cao Sơn Đại Vương với đình Bài Xanh, vì có một lý do nào đó nên đã chia ngôi đình này ra (thượng đình thôn Xanh, hạ đình thôn Bài. Cả hai ngôi đình đều nằm dưới chân núi phía tây núi Bài một trong những dãy núi thuộc dải Nham Biền Sơn hay núi neo 99 ngọn. Làng nằm trải dài theo triền núi như hình con Cốc đang tung cánh bay, mắt nhìn xuống đồng chiêm trũng vốn là hồ Lãng Bạc ngày xưa. Nhìn từ trên cao làng Vân Cốc như một con Cốc Lớn, thân là núi Bài, đầu là núi Đồn, hai cánh dài sải rộng ra hai bên là làng Vân Cốc. Ngôi đình nằm gọn dưới hai mắt con cốc. Đình Vân Cốc thuộc xã Vân Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Là nơi thờ Thành hoàng làng là đức thánh Cao Sơn Đại Vương. Đức Cao Sơn quê ở Động Lăng Xương, huyện Thanh Châu, phủ Gia Hưng, đạo Sơn Tây. Ông là con của hai cụ Nguyễn Hành và Đẩu Thị Loan, ông sinh ra là do bố mẹ được báo mộng-người thần đầu thai. Cho nên lớn lên ông rất thông minh võ nghệ, am hiểu thiên thư. Khi đất nước có giặc ngoại xâm, vua Duệ Vương đã hạ chiếu đi khắp nơi tìm người tài giỏi, đức hiền ra giúp nước. Ông liền về triều ứng tuyển và được trọng dụng ngay, ông được Tản Viên Sơn Thanh phong làm tiền đạo thượng tướng quân. Được nhân dân địa phương hết lòng giúp đỡ- thần nhân âm phù, chẳng mấy thời gian Ngài đã làm xong, khi gặc Thục tới nơi liền bị quân tướng của Ngài đánh cho tơi tả (sau đó phải cầu hoà với nhà Hùng). Giặc Thục bình xong, ông trở lại tráng khi khi trước đã đóng luỹ đồn để báo đáp lòng dân. Xong xuôi ông lại được lệnh hồi triều. Rồi vua cho ông về ăn lộc ở Thanh Hoá và ở đó triều đình có sắc phong cho ông làm Thượng Đẳng Phúc thần và sức cho các nơi mà khi trước đi đánh giặc đã qua được dân trợ giúp phải lập nơi thờ phụng mãi mãi về đức thánh Cao Sơn Đại Vương. Theo ngọc phả của Đình thì Trang Vân Cốc trước đây có một ngôi miếu cổ tại khu đất đình thông, sau đó chuyển rời về giữa làng. Ngôi đình hiện tại dựng năm Mậu Tý- triều Lê Cảnh Hưng (1788) do Dương Tướng Công – Tự Quốc Cơ hưng công xây dựng. Đình hiện còn 5 gian 2 trái 1 ống muống 2 gian, 3 gian hậu cung có sàn gỗ cao rộng. Trước đình còn 2 tấm bia vuông. Di vật hiện còn là 8 bức cửa võng vững chắc uy nghi, 4 đôi câu đối, 10 bức hoành phi, 2 sập thờ long phù hổ phục, 2 cỗ đài nước, 2 giá quán tẩy, 2 hòm sắc phong, 1 quyển sắc phong thần hiệu, 1 quyển ngọc phả , 1 cây hương đá, 1 hòm đựng bộ đòn bát cống, 2 xương quạt, 2 xương tàn lọng, 2 ngựa thờ lớn, 1 bộ chấp kích hơn 20 chiếc, một bộ bát bửu, một mui luyện, 1 long đình, 1 hương án cổ, 2 ngai thờ, 2 bài vị. Tất cả đều được sơn son thiếp vàng lộng lẫy. Một trống, một chiêng và một số cây đèn đá, giá nến… Cùng với chiến công chói lọi trên chiến tuyến sông Như Nguyệt, địa điểm lịch sử Núi Đồn là nơi riễn ra những trận chiến đấu vô cùng ác liệt của quân dân ta thời Lý chống quân xâm lược Tống xâm lược.Đây cũng là nơi đón đánh thắng lợi và truy đuổi kẻ thù dân tộc ra khỏi bờ cõi. Bởi sau trận quyết chiến lược thần tốc, dũng mãnh của quân dân ta vào tập đoàn quân do chánh tướng Quách Quỳ chỉ huy ở đây, âm mưu xâm lược của kẻ thù đã bị đập nát, Quách Quỳ cam chịu thất bại cay đắng. Nhằm đêm tối hạ lệnh rút tàn quân về nước, dẫm đạp lên nhau (như chính sử nhà Tống đã phải thừa nhận). Đình Vân Cốc đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật quốc gia , ngày 21/01/1989). Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Thị Xã Việt Yên Tỉnh Bắc Giang

Bắc Ninh 7461 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia Mở

Chùa Vĩnh Nghiêm

Chùa Vĩnh Nghiêm, còn được gọi là chùa Đức La, là một ngôi chùa cổ tại làng Đức La, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Chùa Vĩnh Nghiêm là ngôi chùa cổ, là nơi lưu giữ lại bộ mộc bản gốc duy nhất của Phật phái Trúc lâm. Đã được UNESCO trao Bằng công nhận 3000 mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm là di sản tư liệu ký ức thế giới. Chùa được công nhận là một trung tâm Phật giáo, nơi đào tạo tăng đồ cho cả nước, nơi phát tích Tam Tổ phái Thiền Trúc Lâm của Phật giáo Việt Nam. Năm 2015, chùa được Nhà nước Việt Nam công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt. Chùa Vĩnh Nghiêm tọa lạc nơi hợp lưu của sông Lục Nam và sông Thương (gọi là ngã ba Phượng Nhãn). Chùa nhìn ra ngã ba sông, phía Lục Đầu Giang - Kiếp Bạc, vùng Cẩm Lý cửa ngõ ra vào núi Yên Tử. Bao quanh chùa là núi non trong đó có núi Cô Tiên. Bên kia sông là vương phủ của Trần Hưng Đạo, đền Kiếp Bạc. Tương truyền chùa Vĩnh Nghiêm được khởi dựng vào thời Lý (thế kỷ XI). Cuối thế kỷ XIII, (1010-1028) Phật hoàng Trần Nhân Tông cho mở mang, xây dựng nơi đây thành trung tâm Phật giáo lớn của thời Trần, đổi tên chùa là Vĩnh Nghiêm, gắn liền với sự ra đời và phát triển của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Với vai trò là một trong chốn tổ của thiền phái, chùa Vĩnh Nghiêm được xây dựng với quy mô kiến trúc bề thế, nhiều hạng mục, mang tính quy chuẩn, mẫu mực của kiến trúc chùa tháp truyền thống. Đây là ngôi chùa cổ có kiến trúc giàu bản sắc Phật Việt nhất mà không ngôi chùa nào trong vùng có được, xứng danh là một “đại danh lam cổ tự”. Trong chùa còn thờ Tượng Phật, tượng các vị Tổ dòng Trúc Lâm, tượng các vị sư Tổ sau này, tượng Hộ pháp, tượng La Hán… Trong chùa còn có chiếc mõ dài gần nửa mét, được sơn đen bóng, lỗ thoát âm có đề hai dòng chữ Phạn. Chùa Vĩnh Nghiêm xưa là nơi đào luyện tăng đồ Phật giáo nên là nơi tàng trữ để các bộ ván kinh xưa rộng tới 10 gian nhà. Đó là những bộ ván kinh có từ 700 năm nay, là kho sách cổ vô cùng quý giá, như: Sa di tăng Sa di lì tỷ khiêu lỵ (348 giới luật), bộ Yên Tử nhật trình từ thế kỷ 15 (quá trình hình thành phái Trúc Lâm), Hoa nghiêm sớ, Di đà sớ sao, Đại thừa chỉ quán, Giới kinh ni... Ngày nay có nhiều kệ ván in kinh sử vẫn còn tại chùa. Người xưa gọi đây là khắc in, minh chứng chùa Vĩnh Nghiêm từng thống lãnh 72 chốn tùng lâm. Hiện nay, kho mộc thư vẫn lưu giữ được 34 đầu sách với gần 3000 bản khắc, mỗi bản có hai mặt, mỗi mặt 2 trang sách khắc ngược (âm bản) khoảng 2000 chữ Nôm, chữ Hán. Những bản khắc đó vẫn được lưu truyền tại nước ta với từng nét chữ sắc xảo, tinh tế. Ngày nay, những giá trị đó vẫn còn giữ nguyên bản, không bị hao mòn giá trị. Diện tích chùa khoảng 1 ha, bao quanh chùa là lũy tre dày đặc. Hiện nay, chùa được tu tạo và tạo điều kiện thuận lợi cho du khách đến du lịch và lễ bái. Du khách có thể đi theo lộ trình như: cổng tam quan, đi sâu vào khoảng 100m nữa là bái đường hay còn gọi là chùa Hộ. Hai bên đường chùa được xây dựng những khóm thông khoảng tầm 1m để tạo thành tùng lâm. Trên sân chùa có một bia đá to, gồm 6 mặt dựng năm Hoằng Định thứ 7 (1606). Ngay trước mặt tấm bia cổ là vườn tháp mộ của 5 vị sư: Phù Lãng Trung pháp (hiệu Sa môn), Thông Duệ ứng Duyên, Thanh Quý, Tịnh Phương Sa môn, Thanh Hanh và một số tháp khác. Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm được tổ chức vào ngày 14 tháng 2 âm lịch. Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Giang

Bắc Ninh 7440 lượt xem

Xếp hạng : Di tích quốc gia đặc biệt Mở

Đình Phúc Long

Đình Phúc Long thuộc xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Đình Phúc Long là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng và văn hoá truyền thống của nhân dân làng Phúc Long xưa cũng như nay. Đình làng là nơi thờ phụng của toàn dân, đồng thời cũng là trung tâm tổ chức lễ hội của làng trong các dịp tết, lễ thể hiện lịch sử lâu đời và truyền thống văn hiến của làng Phúc Long. Căn cứ vào thần tích khắc trên bia đá chiều vua Tự Đức, đồng thời theo truyền thuyết của nhân dân địa phương, cho thấy đình làng Phúc Long thờ các vị thần âm phù, linh ứng, giúp vào việc đánh giặc cứu nước, bảo vệ quê hương. Ngoài ra, nhân dân Phúc Long còn thờ Nhuệ Quận Công Lê Tướng Công, vị quan triều Lê đã có công giúp dân tu dựng lại chùa và đình làng Phúc Long. Đó là ngôi đình, chùa còn lại đến ngày nay. Nhớ ơn ông dân làng đã khắc bia ghi công đức của ông và thờ quan tướng công làm hậu thần, hàng năm cúng tế ông và ngày giỗ 10 tháng 7, gọi là giỗ đức cụ. Văn tế quan tướng công đọc trong ngày giỗ. Có chung tín ngưỡng là thờ Trời, Đất và Nước- những yếu tố gắn bó mật thiết đến cuộc sống của người dân làm nông nghiệp lúa nước. Giá trị của đình Phúc Long không chỉ ở niên điểm khởi dựng cổ xưa, trên 300 năm cách ngày nay, mà điểm chủ yếu là ở quy mô to lớn và kiểu thức kiến trúc độc đáo và nghệ thuật chạm khắc, trang trí tài nghệ, tinh xảo. Điều cuốn hút nhất ở đình Phúc Long là phần trang trí, trạm khắc trên các bộ phận kiến trúc: như trên các đầu dư, đẩy bẩy, ở các bức cuốn, ở cửa võng trước hậu cung đình, ở các mi môn, ở các yếm cột (hay còn gọi là côn tai cột), đều được trạm khắc các hình trang trí với nhiều đồ án khác nhau. Khác với nhiều đình khác, toàn bộ khung gỗ của đình Phúc Long đều để trần, không sơn son thiếp vàng, phô diễn tất cả sự tinh tế, tài khéo của những người thợ dựng đình. Điều rễ nhận biết ở kết cấu kiến trúc và nhất là phần chạm khắc, biểu lộ hai hiệp thợ mộc tham gia xây dựng ngôi đình. Vì vậy phong cách kiến trúc, nhất là phần chạm khắc, biểu lộ hai phong cách khác nhau, trạm khắc tinh tế, tỉa tót, đường nét trau chuốt, mềm mại. Song tất cả đều hoà quyện vừa thống nhất, vừa phong phú, đa dạng, phản ánh những nét chung nhất của nghệ thuật kiến trúc, trạm khắc thời Lê giai đoạn cuối thế kỷ XVII, mang đậm nghệ thuật dân gian: Hồn nhiên, phóng khoáng. Các hình trang trí phổ biến là chạm nối, chạm kênh bong các hình “tứ linh”, “tứ quý” với các biến thể rồng, nghê, phượng, mặt hổ phù, long hoá, lý hoá… vô cùng phong phú. Đình Phúc Long chính thức được Bộ Văn hoá và Thông tin công nhận là di tích lịch sử nghệ thuật cấp quốc gia năm 1993. Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Thị Xã Việt Yên Tỉnh Bắc Giang

Bắc Ninh 7410 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia Mở

Chùa Hàm Long

Chùa Hàm Long (hay Long Hạm) thuộc khu Thái Bảo, phường Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, được khởi dựng từ thời Lý (khoảng thế kỷ XII). Theo con mắt dân gian thì chùa nằm ở thế hàm rồng, nghĩa là dưới hàm một con rồng lớn dài 9 khúc, đó chính là cả dãy Lãm Sơn. Đây là trung tâm Phật giáo lớn, tương truyền là chỗ tu hành của sư Dương Không Lộ. Tọa lạc trên diện tích đất hơn 9.000m2, chùa có vị trí cảnh quan đẹp, hòa hợp với thiên nhiên, được mệnh danh là danh lam cổ tự có lịch sử lâu đời, các công trình kiến trúc được thiết kế, trang trí theo lối truyền thống, chạm khắc tinh xảo, nghệ thuật. Ngày nay, Chùa Hàm Long là trung tâm sinh hoạt tâm linh của nhân dân địa phương và thập phương quanh vùng, nơi tôn thờ phật pháp, là nơi hướng chúng sinh đến với điều thiện tránh xa điều ác, sống từ bi hỷ xả. Ngôi chùa hiện nay có quy mô lớn gồm các công trình: cổng Tam Quan, Tam Bảo, nhà Tổ, nhà Mẫu, nhà Khách, nhà Tăng và các công trình phụ trợ. Tam bảo chùa được làm bằng gỗ lim, kết cấu hình chữ Đinh, gồm Tiền đường 7 gian, kết cấu vì nóc “chồng rường giá chiêng”, vì nách “kẻ ngồi cốn mê” và 3 gian Thượng điện kết cấu vì nóc “chồng rường giá chiêng”, vì nách “kẻ ngồi”. Chùa thờ 7 vị Tổ, thờ Mẫu, thờ ông Đỗ Trọng Vỹ, ông nổi tiếng là người thông minh hiếu học và sau trở thành vị quan thanh liêm, nhà giáo, nhà văn hóa, đặc biệt ông là người có công khởi dựng Văn Miếu Bắc Ninh. Sau khi về già ông về chùa Hàm Long tu trì, sau khi ông mất được thờ phụng tại đây. Hiện nay, chùa Hàm Long vẫn duy trì nghi thức gửi vong cho các vong linh mất vào các giờ hung, giờ phạm. Để tránh tai ương, tật ách, gia đình của vong linh thường gửi vong lên chùa Hàm Long để sớm được trì trú, phổ độ, để các vong linh sớm được vãng sinh, siêu thoát về cõi cực lạc. Các công trình kiến trúc trong khuôn viên Chùa được chạm khắc trang trí tinh xảo, nghệ thuật với một diện mạo khang trang tố hảo. Chùa có ngày hội vào ngày 14 tháng 2 âm lịch, ngoài ra trong năm còn các ngày như: lễ Phật Đản, lễ Vu Lan, tuần Rằm, Mùng một, dịp lễ hội truyền thống, Tết nguyên đán. Chùa cũng đón nhiều đoàn khách trong nước và nước ngoài, các lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước về thăm lễ Phật. Chùa được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hoá, ngày 18/01/1988. Nguồn: Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh

Bắc Ninh 7182 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia Mở
×
Hỏi AI