Top 22+ di tích lịch sử ở Bắc Ninh bạn nhất định nên khám phá

Gắn liền với những làn điệu quan họ mượt mà, Bắc Ninh không chỉ là cái nôi của văn hóa dân gian mà còn nổi tiếng với hệ thống các di tích lịch sử phong phú. Mỗi di tích lịch sử ở Bắc Ninh không chỉ là minh chứng cho quá khứ hào hùng mà còn lưu giữ tinh hoa kiến trúc cổ, thu hút du khách đến tìm hiểu và trải nghiệm văn hóa – lịch sử độc đáo nơi đây.

Bắc Ninh được biết đến như cái nôi của Phật giáo Việt Nam,nơi quy tụ hàng trăm ngôi chùa và đền cổ kính. Bên cạnh đó,vùng đất này còn sở hữu nhiều di tích lịch sử và lăng mộ thờ các danh tướng,ghi dấu những trang sử hào hùng của dân tộc. Cùng 63Stravel khám phá ngay 22 di tích lịch sử ở Bắc Ninh này nhé!

Top 22 di tích lịch sử ở Bắc Ninh bạn nhất định nên khám phá

Điểm danh với 22 di tích lịch sử ở Bắc Ninh nổi tiếng dưới đây để bạn có một chuyến khám phá thú vị và ý nghĩa nhất.

Chùa Phật Tích

Chùa Phật Tích (còn gọi là Vạn Phúc Tự) là một trong những điểm du lịch tâm linh nổi tiếng và lâu đời nhất ở Bắc Ninh,chỉ cách Hà Nội khoảng 20 km. Ngôi chùa hơn 1000 năm tuổi này mang đậm dấu ấn kiến trúc thời Lý,nổi bật với sự uy nghiêm và hài hòa trong từng đường nét.

Chùa Phật TÍch  - Cổ tự nghìn tuổi ở Bắc Kinh

Chùa Phật TÍch  - Cổ tự nghìn tuổi ở Bắc Kinh

Điểm nhấn đặc biệt của chùa là bức tượng Phật A Di Đà bằng đá xanh cao 27m,một trong những tượng đá lớn nhất Đông Nam Á. Ngoài ra,khuôn viên chùa còn có Tháp Phổ Quang – nơi lưu giữ xá lợi của các nhà sư,góp phần tạo nên vẻ linh thiêng và cổ kính. Mặc dù trải qua nhiều biến cố chiến tranh,Chùa Phật Tích vẫn được trùng tu và bảo tồn,trở thành Di tích Lịch sử – Văn hóa vào năm 1962,thu hút du khách tìm về khám phá và chiêm bái.

Đền bà Chúa Kho

Đền Bà Chúa Kho xây dựng từ thời nhà Lý,là một trong những điểm du lịch tâm linh nổi tiếng và linh thiêng bậc nhất Bắc Ninh. Hằng ngày,ngôi đền đón rất đông người đến chiêm bái và dâng hương,mong cầu bình an,tài lộc và sự thuận lợi trong công việc. Đặc biệt,câu chuyện về nghi lễ “vay vốn âm” của Bà Chúa Kho được nhiều người tin tưởng,hy vọng mang lại lộc dương,giúp việc kinh doanh hanh thông và phát đạt.

Đền không chỉ có giá trị tâm linh mà còn mang đậm dấu ấn kiến trúc thời Lý,nằm trong quần thể di tích của khu Cô Mễ cùng đình và chùa. Tương truyền,Bà Chúa Kho là người phụ nữ tài đức,từng góp công lớn trong việc khai hoang,lập ấp và quản lý kho lương sau chiến thắng Như Nguyệt năm 1076. Sau khi bà hy sinh vì bảo vệ lương thực cho dân làng,bà được phong Phúc Thần và dân chúng lập đền thờ ngay tại vị trí kho cũ để bày tỏ lòng biết ơn.

Trải qua chiến tranh với nhiều tổn thất,Đền Bà Chúa Kho đã được trùng tu vào những năm 1978-1980 và hiện vẫn được bảo tồn nguyên vẹn. Với không gian trang nghiêm,từ cổng tam quan đến hậu cung,mỗi góc trong đền đều toát lên vẻ cổ kính và trang trọng,khiến nơi đây trở thành điểm đến không thể bỏ lỡ cho những ai tìm kiếm sự bình yên và tài lộc.

Làng tranh Đông Hồ

Làng tranh Đông Hồ với hơn 400 năm lịch sử,là một biểu tượng độc đáo của nghệ thuật dân gian Việt Nam. Nằm bên dòng sông Đuống thuộc huyện Thuận Thành,Bắc Ninh,ngôi làng không chỉ lưu giữ kỹ thuật làm tranh khắc gỗ tinh xảo mà còn là niềm tự hào văn hóa của cả dân tộc.

Làng tranh Đông Hồ - Tinh hoa nghề Việt hàng trăm năm tuổi

Làng tranh Đông Hồ - Tinh hoa nghề Việt hàng trăm năm tuổi

Tranh Đông Hồ nổi bật với những đường nét mộc mạc,giàu ý nghĩa,tái hiện đời sống và phong tục truyền thống của người Việt xưa. Dù từng trải qua thời kỳ suy thoái trong chiến tranh và những biến động xã hội,làng tranh Đông Hồ vẫn kiên trì bảo tồn nghề làm tranh thủ công.

Ngày nay,nơi đây không chỉ là trung tâm sản xuất tranh mà còn là điểm đến hấp dẫn cho du khách muốn trải nghiệm không gian văn hóa xưa. Năm 2013,nghệ thuật làm tranh Đông Hồ được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia,khẳng định giá trị bền vững của một dòng tranh độc đáo luôn trường tồn qua thời gian.

Cụm di tích đình,đền,chùa làng Quả Cảm

Nằm tại huyện Việt Yên,cụm di tích đình,đền,chùa làng Quả Cảm nơi đây không chỉ lưu giữ giá trị văn hóa tâm linh mà còn gắn liền với những chiến công lịch sử. Đình Quả Cảm tọa lạc trên núi Tượng,từng là điểm trọng yếu trong phòng tuyến sông Như Nguyệt vào thế kỷ XI.

Được xây dựng lại sau khi bị phá hủy trong kháng chiến chống Pháp,ngôi đình có kiến trúc chữ “đinh”,mái ngói mũi hài và những cột gỗ lim vững chãi. Đình thờ Thánh Tam Giang – Thành hoàng làng,với nhiều sắc phong từ thời Lê và Nguyễn,cùng các văn bia ghi dấu những câu chuyện truyền thống của làng.

Đền Quả Cảm nằm ở trại Sáng,thờ bà chúa Sành,người có công lớn với quê hương. Là thứ phi của vua Trần Anh Tông,bà được nhân dân tôn làm phúc thần sau khi mất. Ngôi đền này,dù trải qua nhiều biến động,vẫn được người dân xây dựng lại khang trang trên nền cũ,mang đậm phong cách kiến trúc cổ kính và giá trị tâm linh đặc biệt.  

Chùa Kim Sơn tọa lạc trên núi Kim Sơn,mang phong cách thời Nguyễn,có kiến trúc hình chữ “đinh” với hệ thống cột gỗ to khỏe và các tượng thờ tinh xảo. Không chỉ là nơi thờ Phật,chùa còn thờ thân mẫu bà chúa Sành và lưu giữ nhiều cổ vật quý. Lễ hội chùa được tổ chức vào ngày 20 tháng Giêng âm lịch,thu hút đông đảo khách thập phương.  

Cụm di tích này đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích Lịch sử vào năm 1990,minh chứng cho tầm quan trọng của Quả Cảm trong văn hóa và lịch sử dân tộc.

Thành cổ Luy Lâu

Thành cổ Luy Lâu (còn được gọi là Siêu Loại hay Lũng Khê) nằm tại xã Thanh Khương,Thuận Thành,Bắc Ninh. Với lịch sử hơn 2000 năm từ thời Đông Hán,đây là một trong những tòa thành cổ nhất Việt Nam,chỉ đứng sau Cổ Loa. Luy Lâu từng là trung tâm văn hóa,giáo dục và được coi như kinh đô thứ hai của nước ta vào thế kỷ II. 

Thành cổ Luy Lâu - Khu thành cổ nghìn năm tuổi ở Bắc Ninh

Thành cổ Luy Lâu - Khu thành cổ nghìn năm tuổi ở Bắc Ninh

Dạo bước trong thành,du khách sẽ được chiêm ngưỡng những cổ vật quý giá và hòa mình vào khung cảnh yên bình,cổ kính. Cầu đá Lũng Khê – cây cầu lát bằng 20 tấm đá dẫn vào đền Lũng Khê – là điểm check-in lý tưởng,thu hút những ai yêu thích chụp ảnh.  

Ngoài ra,bạn cũng có thể ghé thăm các công trình tâm linh gần đó như chùa Bình,chùa Phi Tướng,đền thờ Sĩ Nhiếp… Những địa điểm nổi tiếng không chỉ để tham quan mà còn để thắp hương,tìm về chốn bình yên và tĩnh lặng.

>> Tham khảo: Đi du lịch tại Bắc Ninh thì mua gì về làm quà?

Chùa Bút Tháp

Được vinh danh là Di tích Quốc gia đặc biệt,chùa Bút Tháp trải qua bao thăng trầm thời gian vẫn giữ nguyên vẻ đẹp rêu phong và trầm mặc. Tên gọi độc đáo của chùa xuất phát từ tháp đá Bảo Nghiêm với hình dáng vươn cao tựa như ngòi bút,hiên ngang giữa trời.

Chùa Bút Tháp Bắc Ninh- Chốn lưu giữ Bảo Vật Phật Giáo linh thiêng

Chùa Bút Tháp Bắc Ninh- Chốn lưu giữ Bảo Vật Phật Giáo linh thiêng

Tọa lạc bên dòng sông Đuống thơ mộng,chùa được bao phủ bởi màu xanh của rêu phong,mang đến cảm giác yên bình và tĩnh lặng. Du khách đến đây sẽ được thư thái dạo bước trong khuôn viên rộng lớn,thả hồn theo không gian tâm linh thanh tịnh. Đây thực sự là điểm dừng chân lý tưởng cho những ai tìm kiếm sự an yên và chiêm nghiệm.

Đặc biệt,tháp Bảo Nghiêm khiến du khách không khỏi trầm trồ trước vẻ đẹp tinh xảo khi từng phiến đá được nghệ nhân sắp xếp kỳ công,hoàn hảo đến từng chi tiết. Chùa Bút Tháp còn nổi bật với bảy dãy nhà cổ liền kề,tạo thành hình chữ “Công” uy nghi,hài hòa với cảnh sắc thiên nhiên xung quanh.

Đền Vua bà Thuỷ tổ

Đền Vua Bà Thủy Tổ nằm trong làng Viêm Xá (Bắc Ninh),là địa điểm duy nhất trong 49 làng Quan họ gốc của Bắc Ninh và Bắc Giang thờ vị Thủy tổ Quan họ. Được xây dựng từ thời Lê và công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 1994,ngôi đền đã trải qua nhiều lần trùng tu mang vẻ đẹp bề thế,hài hòa với cảnh quan thiên nhiên.

Kiến trúc của đền theo kiểu chữ Đinh với hai tòa: Đại bái và Hậu cung. Tòa Đại bái có ba gian,mái ngói với đôi rồng chầu trên đỉnh nóc,trong khi Hậu cung mới được trùng tu năm 2018 để kỷ niệm 10 năm Quan họ được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Vua Bà không chỉ khai sinh làn điệu Quan họ mà còn truyền dạy nghề trồng lúa,dâu tằm và dệt vải,những nghề truyền thống vẫn được làng Viêm Xá duy trì đến nay. Hàng năm,lễ hội diễn ra vào ngày 6-7 tháng Hai với các nghi lễ,rước hội và hát Quan họ truyền thống. Ngày 10 tháng Giêng,đền còn tổ chức Cuộc thi hát Quan họ đầu xuân,thu hút đông đảo nghệ nhân tham gia,góp phần gìn giữ và truyền dạy tinh hoa Quan họ cho thế hệ trẻ.

Chùa Hàm Long

Chùa Hàm Long là cổ tự hơn 1.000 năm tuổi tại Bắc Ninh,không chỉ nổi tiếng với vẻ đẹp kiến trúc cổ kính mà còn gắn liền với những câu chuyện tâm linh kỳ bí. Được xây dựng từ thời nhà Lý,chùa nằm trên sườn núi Long Lĩnh,bao quanh bởi các ngọn núi như Phượng Hoàng,Kỳ Lân và Rùa tạo nên địa thế phong thủy đặc biệt.

Chùa Hàm Long - Ngôi chùa nhốt vong nổi tiếng xứ Kinh Bắc

Chùa Hàm Long - Ngôi chùa nhốt vong nổi tiếng xứ Kinh Bắc

Ngôi chùa mang kiến trúc đậm dấu ấn Lý triều,với những tòa tháp rêu phong,khu Tam Bảo bằng gỗ lim và bố cục tinh xảo. Khuôn viên rộng hơn 9.000m² bao gồm các công trình như Tam Quan,nhà Tổ,nhà Tăng và nhiều bảo tháp cổ kính. Đặc biệt,chùa còn lưu giữ 14 tháp mộ cổ từ thời Trần và Lê cùng những pho tượng Phật bằng đồng với thần thái thanh thoát,nghệ thuật đúc tinh xảo.

Chùa Hàm Long còn được biết đến là "chùa nhốt vong,cắt trùng tang" lớn nhất Việt Nam. Theo truyền thuyết,thiền sư Như Trừng Lân Giác từng lập ra những pháp bảo để giải trùng tang giúp các vong linh sớm siêu thoát. Nhờ danh tiếng linh thiêng này,nhiều gia đình tìm đến chùa để cắt trùng và gửi vong hồn chưa siêu thoát.

Lễ hội và sinh hoạt tại chùa thu hút đông đảo Phật tử và du khách,với nhiều người đến để cầu tài,cầu lộc và vãn cảnh thanh tịnh. Chùa Hàm Long không chỉ là điểm đến tâm linh mà còn là nơi gìn giữ những giá trị văn hóa,hướng con người đến điều thiện,tránh xa điều ác.

Nhà Thờ Chính Tòa Bắc Ninh

Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh tọa lạc trên đường Ngô Gia Tự,Ninh Xá,chỉ cách thành cổ Bắc Ninh 300m,là biểu tượng tôn giáo và văn hóa lâu đời. Được khởi công vào năm 1889 bởi Đức cha Antonio Lễ và hoàn thành năm 1892,nhà thờ không chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo quan trọng mà còn là di sản lịch sử đặc biệt của giáo phận Bắc Ninh.

Mang phong cách Baroque Ý,nhà thờ được thiết kế theo hình chữ thập,với 12 cột chính tượng trưng cho 12 thánh tông đồ. Điểm nhấn là hai ngọn tháp cao 22m,được cho là biểu trưng cho hình ảnh liền anh,liền chị của quê hương Quan họ. Bên trong tháp treo ba quả chuông đồng từ thế kỷ XIX,vang lên đều đặn,trở thành âm thanh quen thuộc gắn liền với đời sống nơi đây.

Không gian nội thất nhà thờ thoáng đãng và ấn tượng,với gian cung thánh làm từ gỗ hương đỏ,mái trần đan mắt cáo và những bức tranh kính miêu tả 20 mầu nhiệm kinh Mân Côi. Nơi đây còn lưu giữ tượng Nữ Vương Thánh Mân Côi – món quà từ các cha Dòng Đa Minh Tây Ban Nha,cùng tượng Thánh Giuse Hoàng Lương Cảnh,vị tử đạo được phong thánh bởi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

Dù trải qua chiến tranh và một lần trùng tu vào năm 1990,nhà thờ vẫn giữ nguyên vẻ đẹp cổ kính và thiêng liêng. Ngày nay,nơi đây không chỉ là trung tâm sinh hoạt tôn giáo của giáo dân mà còn thu hút khách du lịch và giới trẻ đến tham quan,khám phá vẻ đẹp kiến trúc và tìm về chốn bình yên trong đời sống tâm linh.

Nhà thờ 18 Tiến sĩ họ Nguyễn

Tọa lạc tại thôn Kim Đôi,phường Kim Chân,thành phố Bắc Ninh,Nhà thờ 18 Tiến sĩ họ Nguyễn được khởi dựng từ cuối thế kỷ XV trên nền nhà cũ của cụ Nguyễn Lung – người khai cơ lập nghiệp nơi đây. Công trình được xây dựng mở rộng với nhà Tiền tế vào năm 1990 và thủy đình vào năm 2015. Hiện toàn bộ khuôn viên đã được bao tường bảo vệ,khu vực ao và thủy đình cải tạo khang trang,sạch đẹp.

Nhà thờ 18 Tiến sĩ họ Nguyễn Xếp hạng Di tích cấp quốc gia

Nhà thờ 18 Tiến sĩ họ Nguyễn Xếp hạng Di tích cấp quốc gia

Nhà thờ quay hướng Tây mang kiến trúc kiểu chữ Nhị,gồm Tiền tế và Hậu đường. Tiền tế có 3 gian,không gian mở với mái lợp ngói mũi hài,các bờ nóc và kèo được đắp nổi hoa văn tinh tế. Kết cấu khung gỗ vững chắc theo kiểu chồng rường,giá chiêng,thể hiện sự khéo léo trong kỹ thuật xây dựng truyền thống. Hậu đường gồm 5 gian,cổng chính giữa chạm hoa văn chữ Thọ với kết cấu bộ vì chính tinh xảo,phản ánh nét đặc trưng của kiến trúc đình chùa Việt Nam.

Nhà thờ là nơi thờ phụng tiên tổ,danh nhân khoa bảng và những người thầy có công giáo dưỡng thế hệ sau,góp phần duy trì truyền thống hiếu học và khoa bảng của dòng họ Nguyễn. Với ý nghĩa lịch sử và văn hóa sâu sắc,công trình đã được xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia theo Quyết định số 100-VH/QĐ ngày 21/01/1989.

Cụm di tích: Đền Vân Mẫu - Nghè Chu Mẫu - Nhà Cố Trạch

Từ lâu,vùng Kinh Bắc,dọc đôi bờ sông Cầu,đã lưu truyền tín ngưỡng thờ Thánh Tam Giang – ba vị tướng tài của Triệu Quang Phục,người có công đánh giặc Lương vào thế kỷ VI. Trong số khoảng 372 làng thờ Thánh,xã Vân Dương nổi bật với cụm di tích đặc sắc: Nghè Chu Mẫu,Nhà Cố Trạch và Đền Vân Mẫu.

Đền Vân Mẫu được xây dựng ngay sau khi thân mẫu của các Thánh,bà Phùng Thị Nhan,qua đời. Đền nằm trên khu đất cao,mang dáng "hàm rồng," với giếng nước hai bên được ví như đôi mắt rồng. Dù từng bị tàn phá vào năm 1952,ngôi đền đã được nhân dân phục dựng và mở rộng qua nhiều giai đoạn,giữ lại những nét kiến trúc tinh xảo đặc trưng.

Nhà Cố Trạch cách đền không xa,là nơi ở của bà Phùng Thị Nhan. Sau khi bà mất,ngôi nhà trở thành nơi thờ tự,được trùng tu nhiều lần để tôn vinh công đức người mẹ sinh ra Thánh Tam Giang. 

Nghè Chu Mẫu với kiến trúc cổ kính,hiện vẫn lưu giữ bốn pho tượng đá xanh tượng trưng cho các Thánh. Di tích này chứa đựng nhiều tài liệu và cổ vật quý giá,phản ánh đậm nét lịch sử và văn hóa địa phương.

Năm 1989,cụm di tích Vân Dương được công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia,khẳng định giá trị văn hóa,tâm linh sâu sắc. Đồng thời là biểu tượng về tinh thần yêu nước và anh hùng dân tộc.

Cụm di tích đình đền chùa Điều Sơn

Cụm di tích đền – chùa Điều Sơn nằm dưới chân núi Điều Sơn,phường Thị Cầu,thành phố Bắc Ninh,mang đậm dấu ấn lịch sử và văn hóa. Được trùng tu lớn vào năm 1687 và nhiều lần qua các giai đoạn,kiến trúc hiện nay thuộc thời Nguyễn,bố cục theo kiểu “tiền Thánh hậu Phật”.

Đền có kết cấu chữ Nhị gồm Tiền tế 3 gian 2 chái với khung gỗ lim bền chắc và Hậu cung,nơi thờ thân mẫu Thánh Gióng cùng bức hoành phi cổ “Mẫu nghi thiên hạ”. Đền Điều Sơn cũng phối thờ Thánh Tam Giang và vợ chồng tướng Trần Lựu,những vị anh hùng có công trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh.

Kề bên đền,chùa Điều Sơn mang kiến trúc chữ Đinh với Tiền đường 5 gian và Thượng điện 3 gian. Chùa hiện vẫn bảo tồn nhiều di vật quý như tượng,chuông đồng và bia đá từ thời Nguyễn.

Với giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc sắc,cụm di tích Điều Sơn đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào năm 1990.

Chùa Đại Bi Bắc Ninh

Chùa Đại Bi (Bắc Ninh) (còn gọi là chùa Tẩy hay chùa Tổ) nằm ở thôn Vạn Ty,xã Thái Bảo,huyện Gia Bình,bên bờ nam sông Đuống. Đây là ngôi chùa cổ kính với lịch sử lâu đời,được Huyền Quang xây dựng vào năm 1305 (Quý Mão) trong chuyến thăm quê cha mẹ. Chùa mang tên "Đại Bi" để tôn vinh lòng từ bi của Quan Thế Âm Bồ Tát,với ý nghĩa cứu độ chúng sinh thoát khỏi khổ đau trần thế.

Trải qua thời gian,chùa đã được tu bổ nhiều lần vào thời Lê và Nguyễn,nhưng vẫn giữ nguyên nét kiến trúc cổ đặc sắc. Khuôn viên chùa được chia thành nhiều khu vực: Tam Bảo,Tiền đường,Thượng điện,và đền thờ Tam Tổ. Khu Tam Bảo hướng về phía nam,nổi bật với khung sườn gỗ lim chắc chắn và những mái đao cong duyên dáng. Bên trong là các pho tượng tinh xảo,đa số được tạo tác từ thời Nguyễn.

Chùa Đại Bi kiến trúc nức danh vùng Kinh Bắc thu hút đông đảo du khách

Chùa Đại Bi kiến trúc nức danh vùng Kinh Bắc thu hút đông đảo du khách

Phía sau Tam Bảo là nhà bia,nơi ghi danh các vị tổ sư,và gần đó là đền thờ Tam Tổ – ba vị tổ của Thiền phái Trúc Lâm: Phật Hoàng Trần Nhân Tông,Pháp Loa và Huyền Quang. Tượng các vị tổ được tạc khéo léo,thể hiện phong thái thanh tịnh.

Chùa Đại Bi gây ấn tượng với không gian tĩnh lặng,hài hòa cùng cây cối xanh mát,mang đến cảm giác an yên cho khách thập phương. Trải qua thời gian,mái ngói phủ rêu phong,kệ đá mờ dấu khắc,và những cây cổ thụ lâu năm càng làm nổi bật vẻ đẹp trầm mặc,nhuốm màu lịch sử của nơi này. Năm 1990,chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia,thu hút nhiều du khách tìm đến để chiêm bái và tĩnh tâm.

>> Nên đọc: Top tỉnh/thành phố hàng đầu điểm đến du lịch một mình ở Việt Nam

Đình Làng Đình Bảng

Một trong những địa điểm check-in tuyệt vời ở Bắc Ninh mà bạn không nên bỏ lỡ chính là đình làng Đình Bảng. Được xây dựng vào cuối thế kỷ 18,ngôi đình nổi bật với kiến trúc độc đáo và cổ kính. Kết cấu của đình bao gồm một gian chính cùng các vách hai bên,có độ cao tăng dần,tạo ra không gian rộng rãi cho các buổi họp mặt của người dân trong làng.

Khi đặt chân vào đình,bạn sẽ bị cuốn hút bởi những bức phù điêu tinh xảo,với hơn 500 tác phẩm điêu khắc mô tả phong phú các khía cạnh văn hóa và lịch sử địa phương,mang đến cảm giác uy nghi và trang trọng. Nơi đây không chỉ là biểu tượng văn hóa của vùng đất Bắc Ninh mà còn là minh chứng cho sự tài hoa của các nghệ nhân xưa. Đình làng Đình Bảng đã được công nhận là Di tích cấp Quốc gia vào năm 1961,là điểm đến lý tưởng cho những ai muốn khám phá vẻ đẹp truyền thống của văn hóa Việt Nam.

Đình chùa Đọ Xá

Chùa Đọ Xá nằm ở trung tâm khu phố Đọ Xá,phường Ninh Xá,thành phố Bắc Ninh,là một trong những ngôi chùa nổi bật của vùng đất này. Kết hợp cùng Đình Đọ Xá,chùa tạo thành một quần thể kiến trúc hòa quyện,không có tường bao,mang đến không gian thông thoáng và gần gũi với thiên nhiên. Được công nhận là Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia vào năm 1992,chùa Đọ Xá nổi bật với lối kiến trúc truyền thống,tinh xảo trong từng chi tiết chạm khắc,thể hiện tài hoa của các nghệ nhân qua hệ thống tượng Phật và đồ thờ tự.

Đình chùa Đọ Xá Xếp hạng Di tích cấp quốc gia

Đình chùa Đọ Xá Xếp hạng Di tích cấp quốc gia

Tòa Tam bảo của chùa được thiết kế theo kiểu chữ Đinh với Tiền đường 5 gian và Thượng điện 4 gian,được mở ra phía Tây Nam bằng kiểu cửa bức bàn,dẫn vào sân với 7 bậc thang đá xanh. Mái chùa lợp ngói mũi,nổi bật với tên chữ "Quang Minh tự" trang trí tinh xảo bằng chữ Hán. Khuôn viên chùa còn bao gồm các công trình phụ như Tam quan,nhà Tổ,nhà mẫu và nhà ở cho sư,tất cả đều mang vẻ đẹp hài hòa và truyền thống.

Chùa Đọ Xá còn lưu giữ nhiều hiện vật quý giá như bia Linh bi đỗ tự bi ký (1706),chuông đồng đúc năm 1898 và các tượng Phật thời Nguyễn. Hội chùa Đọ Xá diễn ra từ ngày 13 đến 15 tháng Giêng âm lịch,trở thành trung tâm tôn giáo và tín ngưỡng cho người dân địa phương,góp phần vào việc giáo dục và phát huy tình đoàn kết cộng đồng giúp mỗi người hướng thiện và trừ ác.

Thành cổ Bắc Ninh

Xây dựng từ năm 1805,Thành cổ Bắc Ninh là một biểu tượng tiêu biểu cho lối kiến trúc quân sự cổ của Việt Nam. Khu thành trải dài từ làng Yên Xá đến Đỗ Xá,gắn liền với đời sống văn hóa và tinh thần của người Bắc Ninh,thậm chí còn được nhắc đến trong những câu hát quan họ nổi tiếng của vùng.

Thành được bảo vệ bởi một hào nước và có bốn cửa,cùng với hệ thống tường dài được xây bằng gạch (trước đây sử dụng đất và đá ong),tạo nên vẻ bề thế cho công trình. Với chiều dài hơn 200 mét và chiều cao trên 4 mét,Thành cổ Bắc Ninh vẫn giữ được sự hoành tráng và uy nghi,trở thành một trong những tòa thành đẹp nhất phía Bắc,lưu giữ nhiều giá trị lịch sử và văn hóa quý báu.

Chùa Dâu

Chùa Dâu xây dựng từ năm 187 và hoàn thành năm 226,tọa lạc tại vùng Dâu. Với lối kiến trúc "Nội công,ngoại quốc",chùa Dâu bao gồm tiền đường,thiêu hương và thượng điện,tạo nên một không gian linh thiêng,hòa quyện giữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Chùa Dâu Bắc Ninh - Ngôi chùa Phật Giáo lâu đời nhất ở Việt Nam

Chùa Dâu Bắc Ninh - Ngôi chùa Phật Giáo lâu đời nhất ở Việt Nam

Nổi bật trong quần thể chùa là tháp Hòa Phong cao chín tầng,biểu tượng cho ngọn núi vũ trụ,cùng hồ nước trong xanh và vườn tháp cổ bên cạnh,tạo nên không gian yên bình và tĩnh lặng. Được xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia đặc biệt năm 2013,chùa Dâu không chỉ là nơi thờ cúng mà còn là điểm đến hấp dẫn cho du khách khám phá văn hóa và lịch sử.

Đền thờ Nguyễn Phúc Xuyên

Đền thờ Nguyễn Phúc Xuyên tọa lạc tại phường Đại Phúc,thành phố Bắc Ninh,là một di tích lịch sử có giá trị văn hóa lớn. Nằm trên một khu đất đẹp và không gian thoáng đãng,đền được xây dựng để tôn vinh Nguyễn Phúc Xuyên,một nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn trong lịch sử Kinh Bắc.

Sinh năm 1613,ông là người theo học đạo Nho nhưng lại có đam mê với đạo Thiền,đồng thời nổi tiếng với tài làm thuốc,chữa bệnh cho người dân và cả chúa Trịnh. Sau khi ông qua đời vào năm 1696,con cháu đã lập đền thờ để tưởng nhớ và tiếp nối sự nghiệp của ông.

Đền hiện lưu giữ nhiều tài liệu và hiện vật quý giá,đặc biệt là các tư liệu bằng chữ Hán từ thời Nguyễn như hoành phi,câu đối và chuông đồng. Những hiện vật này không chỉ ghi dấu ấn về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Phúc Xuyên mà còn phản ánh phong tục và đời sống văn hóa của người dân nơi đây từ xa xưa.

Chùa Phúc An Bắc Ninh

Chùa Phúc An là một điểm đến nổi bật tại Bắc Ninh,tọa lạc ở thôn An Động,xã Lạc Vệ,huyện Tiên Du. Khu vực này từng là vùng đất màu mỡ,giàu truyền thuyết và di sản văn hóa dân tộc.

Được xây dựng vào năm 1599 dưới triều vua Lê Trung Hưng,chùa trải qua nhiều thăng trầm lịch sử và chỉ còn lại 5 gian nhà tổ vào năm 1951. Đến năm 1993,người dân đã chung tay tu sửa và mở rộng chùa với nhiều công trình như tòa Tam Bảo,nhà Tổ và gác chuông.

Chùa được coi là linh thiêng,từng che chở cho vua lánh nạn,và sau đó được đặt tên là An Động. Qua thời gian,dù phải đối mặt với thiên tai và chiến tranh,lòng tôn kính của người dân đã giúp chùa hồi sinh,giữ gìn nét truyền thống. Ngày nay,chùa Phúc An không chỉ khang trang mà còn thu hút nhiều du khách đến tham quan và chiêm bái,trở thành một phần quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh của địa phương.

Văn Miếu Bắc Ninh

Văn Miếu Bắc Ninh được xây dựng vào thời nhà Lê,là biểu tượng cho truyền thống hiếu học của xứ Kinh Bắc. Nằm cách Hà Nội khoảng 30km,đây là một trong sáu văn miếu ở Việt Nam,phản ánh rõ nét giá trị lịch sử và văn hóa qua các triều đại phong kiến.

Ban đầu,văn miếu tọa lạc ở núi Châu Sơn,Thị Cầu nhưng đã được di dời về vị trí hiện tại vào năm 1893 sau khi bị hư hại. Công trình gồm nhiều hạng mục như tam môn,tiền tế,hậu đường và hai dãy tả,hữu vu,với cổng tam môn được trang trí tinh xảo.

Văn miếu Bắc Ninh – Vang mãi tiếng thơm vùng đất hiếu học

Văn miếu Bắc Ninh – Vang mãi tiếng thơm vùng đất hiếu học

Tòa tiền tế 5 gian với những họa tiết công phu,nơi thờ các bậc hiền tài như Khổng Tử và Chu Công,đã được khắc họa sống động trong các bia đá tiến sĩ. Đặc biệt,15 tấm bia tiến sĩ lưu danh 677 vị tiến sĩ từ năm 1075 đến 1919,là những người có công trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Bia “Bắc Ninh tỉnh trùng tu Văn Miếu bi ký” ca ngợi vai trò của văn miếu và những đóng góp của cộng đồng trong công tác trùng tu. Văn miếu Bắc Ninh hiện nay không chỉ là di tích lịch sử mà còn là trung tâm văn hóa,thường xuyên tổ chức các hoạt động tưởng niệm và khuyến khích truyền thống hiếu học,thu hút đông đảo học sinh đến dâng hương và học tập từ những tấm gương sáng. Vào rằm tháng Giêng hàng năm,lễ dâng hương tưởng niệm cũng được tổ chức,thể hiện lòng tri ân đối với các bậc tiền nhân và cầu mong quốc thái dân an.

Đền Đô và khu Lăng mộ các vị vua triều Lý

Bên cạnh thành cổ và các ngôi chùa,đền Đô là một trong những điểm đến nổi bật tại Bắc Ninh,thu hút đông đảo khách du lịch hàng năm. Nơi đây không chỉ là nơi thờ cúng tám vị vua nhà Lý mà còn là di sản văn hóa mang đậm dấu ấn lịch sử. Trải qua nhiều lần trùng tu,đền Đô vẫn giữ nguyên vẻ đẹp kiến trúc ban đầu,hòa quyện giữa phong cách dân gian và cung đình.

Nằm trên khuôn viên rộng 31.000m²,đền Đô mang đến không gian thiên nhiên trong lành với hồ nước yên ả cùng những chi tiết chạm trổ tinh xảo. Khu điện thờ chính nổi bật với các nội dung lịch sử quan trọng như Chiếu dời đô và bài thơ Nam quốc sơn hà,thể hiện lòng tự hào dân tộc và tâm linh của người Việt. Với sự kết hợp hoàn hảo giữa kiến trúc và cảnh quan,đền Đô trở thành điểm dừng chân lý tưởng cho những ai yêu thích khám phá văn hóa và lịch sử.

Làng gốm Phù Lãng

Khi đặt chân đến Phú Võ,đừng quên ghé thăm làng gốm Phù Lãng - một ngôi làng cổ nằm bên dòng sông Cầu thơ mộng. Tại đây,bạn không chỉ bị cuốn hút bởi vẻ đẹp tự nhiên bình yên mà còn có cơ hội tìm hiểu quy trình tinh tế tạo ra những sản phẩm gốm sứ tuyệt đẹp.

Làng gốm Phù Lãng có lịch sử hình thành từ thời nhà Trần và vẫn được gìn giữ cho đến ngày nay. Du khách sẽ được chiêm ngưỡng nhiều sản phẩm gốm độc đáo,từ đồ gia dụng đến các tác phẩm trang trí nghệ thuật.

Làng gốm Phù Lãng – Làng gốm nổi tiếng 700 năm xứ Kinh Bắc

Làng gốm Phù Lãng – Làng gốm nổi tiếng 700 năm xứ Kinh Bắc

Đặc biệt,nơi đây nổi tiếng với kỹ thuật đắp nối chạm bong,một phương pháp độc đáo tạo nên những sản phẩm gốm có giá trị nghệ thuật cao. Hãy dành thời gian để hòa mình vào không gian văn hóa đặc sắc này,nơi truyền thống và sự sáng tạo giao thoa một cách tuyệt vời.

Hy vọng bài viết trên đã mang đến cho bạn cái nhìn tổng quan và thú vị về những di tích lịch sử ở Bắc Ninh độc đáo. Mỗi địa điểm không chỉ chứa đựng giá trị văn hóa,lịch sử mà còn là minh chứng cho sự phát triển của vùng đất này. Nếu bạn có kế hoạch khám phá vùng đất đầy tiềm năng và truyền thống này,đừng quên truy cập ứng dụng 63Stravel để đặt phòng khách sạn Bắc Ninh với giá ưu đãi hấp dẫn nhé! Chúc bạn có một chuyến đi đầy trải nghiệm và kỷ niệm đáng nhớ!

Bắc Ninh 14802 lượt xem

63Stravel

Nguồn :

Link liên kết

Tour bản địa Xem tất cả

THE TRANS - VIETNAM TOUR 2025

11 DAY 10 NIGHT

Liên hệ đ

Xem chi tiết

GIAO LƯU VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG ĐÀ LẠT

Lâm Đồng

18h00 - 21h00

300,000 đ

Xem chi tiết

TOUR NGOẠI THÀNH ĐÀ LẠT

Lâm Đồng

8h00 - 16h00

600,000 đ

Xem chi tiết

CHINH PHỤC LANGBIANG – CRAZY HOUSE – THÁC DATANLA

Lâm Đồng

8h00 - 16h00

500,000 đ

Xem chi tiết

Check in những địa điểm HOT tại Đà Lạt

Lâm Đồng

8h00 - 16h00

600,000 đ

Xem chi tiết

Tour Khám Phá Địa Điểm Mới 2024 Tại Đà Lạt

Lâm Đồng

8h00 - 16h00

600,000 đ

Xem chi tiết

Săn mây đón Bình minh tại Đà Lạt

Lâm Đồng

4h00 - 10h00

400,000 đ

Xem chi tiết

3 ĐẢO DELUXE

Khánh Hòa

8h00 - 15h00

550,000 đ

Xem chi tiết

MINI BEACH - VỊNH SAN HÔ

Khánh Hòa

8h00 - 15h00

650,000 đ

Xem chi tiết

Lặn biển SeaWalking

Khánh Hòa

8h30 - 15h00

1,250,000 đ

Xem chi tiết

Điệp Sơn - Dốc Lết

Khánh Hòa

8h - 16h30

680,000 đ

Xem chi tiết

Đà Lạt Ngàn Hoa

Lâm Đồng

7h00 - 16h00

790,000 đ

Xem chi tiết

MINI BEACH - HÒN TẰM RESORT

Khánh Hòa

8h00 - 15h00

780,000 đ

Xem chi tiết

Đảo Bình Hưng

Khánh Hòa

7h30 - 15h00

670,000 đ

Xem chi tiết

CITY NHA TRANG

Khánh Hòa

8h00- 15h00

550,000 đ

Xem chi tiết

4 ĐẢO NHA TRANG

Khánh Hòa

8h00 - 15h00

650,000 đ

Xem chi tiết

Hòn Tằm Resort

Khánh Hòa

8h00 - 15h00

790,000 đ

Xem chi tiết

3 ĐẢO VIP HÒN TẰM

Khánh Hòa

8h00 - 15h00

680,000 đ

Xem chi tiết

LẶN BIỂN NHA TRANG

Khánh Hòa

8:00 - 15h00

900,000 đ

Xem chi tiết

HANG RÁI - VƯỜN NHO - ĐỒNG CỪU

Khánh Hòa

7:30 - 15h

600,000 đ

Xem chi tiết

Điểm du lịch gần

Xem tất cả

Hồ Khuôn Thần

Khu du lịch nổi tiếng Khuôn Thần có vị trí tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Điểm đến nay cách Hà Nội khoảng 100km và cách thành phố Bắc Giang khoảng 50 km (phố Chũ). Từ trung tâm thị trấn Chũ rẽ trái khoảng 10 km, một khung cảnh tuyệt sắc hiện lên trước mắt. Hồ nước trong xanh soi bóng mây trời cùng với những hòn đảo nhấp nhô. Hồ Khuôn Thần không chỉ mang vẻ đẹp đơn thuần mà còn khiến du khách đắm say. Nơi đây mang vẻ đẹp giao hoà giữa khí – trời – đất. Một cảnh quan, môi trường sinh thái trong lành. Hồ Khuôn Thần hiện lên nổi bật giữa một bức hoạ thiên nhiên muôn màu sắc. Bức hoạ ấy được thuê dệt từ màu xanh bạt ngàn của rừng, trời, mây, non nước. Với diện tích khoảng 240ha, nơi đây được bao bọc bởi những rừng thông, chàm, keo tai tượng tươi tốt. Cảnh sắc ấy lại được điểm tô thêm bởi màu đỏ rực rỡ của những đồi vải đang vào mùa thu hoạch. Thêm vào đó là những rặng liệu nghiêng mình toả bóng. Nét đẹp của Hồ Khuôn Thần càng trở nên cuốn hút hơn bởi những hòn đảo to nhỏ nổi lên giữa mặt nước. Trên các đảo được phủ thông và các cây loại cây ăn quả khác nhau. Tạo hoá đã ban cho khu du lịch Khuôn Thần một cảnh sắc tuyệt tác. Đến nơi đây, du khách có thể thả hồn trên du thuyền. Lênh đênh giữa hồ, cảm nhận sự mênh mông, yên bình và đắm mình trong cảnh sắc thiên nhiên huyền ảo. Vẻ đẹp của trời, mây, non nước hoà quyện lại trước mắt. Khi lên tởi đỉnh đập nước hồ Khuôn Thần, du khách có thể cảm nhận thêm cảnh mênh mông, hùng vĩ, và thơ mộng của trùng điệp nủi rừng. Đặc biệt, vào mùa mưa, nước chảy từ đỉnh đập Khuôn Thần ào ào xuống thung lũng ven hồ tạo thành cảnh sắc ngoạn mục. Trên đường đi, du khách có thể dừng chân ghé thăm các đảo nổi. Trên các đảo này được trồng thông và các cây ăn quả: vải, nhãn,..Không giãn bao la bình yên, trữ tình và thi mộng. Ngồi trên những thảm cỏ xanh mát, dưới những hàng thông vi vu toả bóng. Hay ngả mình trên những chiếc võng đu đưa dưới những cây nhãn. Hoà mình trọn vẹn vào thiên nhiên, làn gió nhẹ thổi cuốn đi hết những ưu phiền. Mỗi nơi sẽ có những thời điểm riêng để phô ra trọn vẹn những vẻ đẹp vốn có của mình. Với hồ Khuôn Thần, nơi đây có không khí mát mẻ, trong lành nên bạn có thể đến vào mọi thời điểm trong năm. Tuy nhiên, mùa hè có lẽ là mùa đến đây lý tưởng nhất. Trái ngược với cái nắng nóng bụi bặm của thành phố. Vào mùa hè, các bạn có thể dành thời gian để đến với khu Khuôn Thần. Nơi đây mang lại cho bạn cái mát lạnh của hồ cùng không khí trong lành. Không những thế, bạn còn được ngắm nhìn sắc đỏ của đồi vải rực rỡ, thưởng thức những trái vải thơm ngon. Một cảm giác thoải mái, dễ chịu tại nơi đây. Không gian, cảnh vật, con người nơi đây đã khiến khu du lịch Hồ Khuôn Thần trở thành một điểm đến lý thú. Trải nghiệm Hồ Khuôn Thần chắc chắn sẽ là một kỷ niệm khó quên với vẻ đẹp của con người, cảnh sắc mộng mơ mang sức hấp dẫn kỳ lạ giữa chốn sơn trang. Nơi đây chính là một điểm đến lý tưởng dành cho những ai yêu thích, khám phá thiên nhiên. Cũng là nơi dừng chân dành cho những ai muốn tìm một nơi bình yên, thư giãn.

Bắc Ninh

Tháng 3 đến tháng 10

7033 lượt xem

Rừng nguyên sinh Khe Rỗ

Mỗi tỉnh thành Việt Nam đều được ưu ái cho những cảnh sắc thiên nhiên phong phú, các danh lam thắng cảnh độc đáo. Bắc Giang cũng không nằm ngoài sự ưu ái đó. Nhắc đến Bắc Giang là nhắc đến các khu di tích tâm linh như chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà, đình Lỗ Hạnh, Lăng Dinh Hương, Lăng Họ Ngọ gắn với nền văn hóa truyền thống độc đáo và lâu đời. Nhắc đến Bắc Giang là nhắc đến các địa điểm du lịch nổi tiếng như Đồng Cao, Suối Nước Vàng, Hồ Cấm Sơn,… và không thể không nói đến Rừng nguyên sinh Khe Rỗ. Sở dĩ nơi đây có cái tên như vậy là do đặc trưng địa hình với những khe sâu, núi cao, rừng già và đặc biệt khi thời tiết thay đổi thì ở Khe Rỗ lại vang lên những âm thanh như thác đổ. Chính vì vậy người dân nơi đây mới gọi tên là "Khuổi Lồ" đọc theo tiếng phổ thông có nghĩa là Khe Rỗ. Nằm trong khu bảo tồn Tây Yên Tử, cảnh sắc thiên nhiên ở rừng nguyên sinh Khe Rỗ vô cùng hoang sơ và có một chút bí ẩn đủ sức làm các du khách tò mò. Chính vì thế, nơi đây nhanh chóng trở thành điểm đến thú vị đối với những du khách ưa khám phá và muốn thư giãn cùng thiên nhiên. Rừng nguyên sinh Khe Rỗ có tổng diện tích tự nhiên 7.153ha, nằm trong ba lưu vực Khe Rỗ, Khe Đin và Khe Nước Vàng. Rừng ở đây rất phong phú về động, thực vật đặc biệt là những loài quý hiếm. Đặc biệt, rừng nguyên sinh Khe Rỗ rất nổi tiếng với cây đa tình đã trên 500 tuổi, vừa là nơi hò hẹn, vừa là nơi kết duyên, vừa là nơi chứng kiến biết bao câu chuyện tình đẹp của những chàng trai, cô gái An Lạc. Do đặc điểm địa hình mà nơi đây nhanh chóng trở thành một khu du lịch nghỉ dưỡng, sinh thái cuối tuần hấp dẫn. Đến Khe Rỗ, du khách không chỉ được đắm mình trong làn nước suối trong vắt, mà còn được trải nghiệm nhiều hoạt động vui chơi thú vị, đặc biệt là hoạt động trải nghiệm cuộc sống, văn hóa của đồng bào. Hiện trong bản có nhiều hộ gia đình có dịch vụ lưu trú qua đêm cho khách du lịch với sức chứa vài chục khách mỗi đêm.

Bắc Ninh

Từ tháng 1 đến tháng 12

7860 lượt xem

Đền Suối Mỡ

“Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ”, hàng năm vào ngày 30-3 và 1-4 âm lịch, nhân dân các dân tộc vùng chân núi sườn Tây Yên Tử, huyện Lục Nam (Bắc Giang) lại nô nức trẩy hội Suối Mỡ. Lễ hội tưởng nhớ vị nữ thần Mỵ Nương Quế Hoa được suy tôn là Thánh Mẫu Thượng Ngàn đã có công khai phá đất đai, khơi dòng suối mát, dạy dân cày cấy để có cuộc sống ấm no. Theo các tài liệu xưa ghi chép lại, đền Suối Mỡ thờ Thánh Mẫu Thượng Ngàn từng được sắc phong: “Thần thông quảng đại càn, thập nhị tôn nàng Vực Mỡ”. Mẫu Thượng Ngàn được thờ ở Suối Mỡ là Mỵ Nương Quế Hoa, con Vua Hùng Định Vương và Hoàng hậu An Nương. Hoàng hậu sinh ra nàng bên gốc quế rồi mất. Lớn lên, Quế Hoa luôn nhớ thương mẹ nên đã đi vào rừng sâu để tìm dấu vết người mẹ hiền. Tới khu thung lũng là xã Nghĩa Phương ngày nay, vùng đất phẳng phiu rộng rãi nhưng cây cỏ héo tàn, xơ xác do thường xuyên hạn hán, Quế Hoa nghĩ rằng phải tìm nước về cho người dân sinh sống. Sau nhiều ngày đường vất vả, công chúa bắt gặp hồ nước mênh mông, đang băn khoăn tìm cách mở đường đưa dòng nước mát về nơi khô hạn, thì được một cụ già râu tóc bạc phơ cho quyển sách luyện phép lạ cứu đời. Quế Mỵ Nương bèn lập một hành cung làm nơi tu luyện và đã thành công. Nàng xoè năm ngón tay ấn xuống tạo thành sức mạnh kỳ lạ khiến núi nứt ra, đá ầm ầm xô chuyển, nước từ các khe ào ào dốc xuống vùng đất thấp rồi chảy thành dòng êm ả. Từ đó cây cối mọc lên, chim chóc kéo tới, đời sống nhân dân ngày càng no ấm. Khi đó, Mỵ Nương Quế Hoa cùng 12 thị nữ bay về trời trên đám mây ngũ sắc. Để tưởng nhớ công ơn bà, dân bản lập bàn thờ tại nơi bà đưa nước nguồn về và gọi là đền Suối Mỡ. Đời sau đều tôn là Thánh Mẫu Thượng Ngàn. Suối Mỡ quanh năm nước chảy rì rào bắt nguồn từ khu vực Đá Vách và Hố Chuối rồi xuôi dòng qua năm bậc thác mẹ, thác con nối tiếp. Tương truyền đó chính là dấu năm ngón tay của nàng công chúa Mỵ Nương. Dọc theo con suối thiêng, nhân dân xây dựng một quần thể di tích gồm: Đền Hạ, đền Trung và đền Thượng. Dấu tích cũ cho biết, quần thể di tích có niên đại từ thời Lê – Mạc và đã được tu sửa, tôn tạo qua nhiều giai đoạn. Đến với lễ hội Suối Mỡ là đến với vẻ đẹp sơn thuỷ hữu tình. Với quãng đường 7 km, du khách có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh nơi đây với nước suối trong lành và cây lá xanh tươi cùng hệ thống công trình: Đền Hạ, Đền Trung, Đền Thượng, Bãi Quần Ngựa, Đền Trần, Khu Ba Dinh Bẩy Nền, Chùa Hòn Trứng, Đình Xoan và chùa Hồ Bấc… Đền Thượng nằm ở lưng chừng núi Vực Mỡ. Từ đây có thể bao quát cả khu đền Trung, Đền Hạ và một phần thung lũng xã Nghĩa Phương. Đền vốn được tạo ra từ mái đá của sườn núi. Mặt nhìn xuống Suối Mỡ chảy từ thác Thùm Thùm. Từ đây trở xuống Suối Mỡ rộng dần và có nhiều thác lớn nhỏ. Đền Trung ở chân núi Vực Mỡ thuộc hữu ngạn suối này, có không gian rộng rãi thoáng mát. Nước suối trong mát chảy dài xuống Đền Hạ. Đền Hạ quy mô lớn hơn nằm ở giữa thung lũng. Trong ngày hội, đây là nơi tập trung khách thập phương các nơi về lễ đền. Lễ hội đền Suối Mỡ là ngày hội văn hoá của nhân dân các dân tộc thuộc nhiều làng, xã dưới chân núi thuộc sườn tây Yên Tử (Lục Nam). Các làng Dùm, làng Quỷnh thuộc xã Nghĩa Phương từ thượng cổ tới nay, vào ngày hội đều có lễ rước sắc, bài vị và lễ vật về đền Suối Mỡ. Ngoài ra, hội đền còn tổ chức thi bắn cung, võ dân tộc, đấu vật, cờ bỏi, đánh đu, chọi gà... Một nét văn hoá độc đáo và đặc sắc không thể thiếu trong lễ hội Suối Mỡ, gắn với nhân vật thờ chính ở ngôi đền là nghi lễ hầu Thánh trong ngày lễ hội. Những năm gần đây được sự quan tâm và chỉ đạo của ngành văn hoá, lễ hội Suối Mỡ còn tổ chức liên hoan nghi lễ chầu văn, nhằm tôn vinh bảo tồn nét đẹp văn hoá thờ Mẫu.

Bắc Ninh

Từ tháng 1 đến tháng 12

7626 lượt xem

Khu du lịch Suối Mỡ

Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ nằm trên tuyến đường tâm linh từ TP Bắc Giang đến thị trấn Thanh Sơn (Sơn Động) kết nối với nhiều khu, điểm du lịch hấp dẫn như: Chùa Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng); khu du lịch tâm linh - sinh thái Tây Yên Tử, Khe Rỗ (Sơn Động), đồng thời tiếp giáp với hai tỉnh Quảng Ninh và Hải Dương trở thành điểm du lịch cầu nối trung chuyển với các điểm du lịch trong quần thể di tích - danh thắng phía Đông và Tây Yên Tử, cùng di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc và các điểm du lịch khác của 3 tỉnh. Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng, gồm hệ thống 3 ngôi đền chính: Hạ - Trung - Thượng thờ Thánh Mẫu Thượng ngàn công chúa Quế Mị Nương con của vua Hùng Vương thứ IX - người có công khai mở ra vực mỡ, dẫn nước nhập điền, dạy nhân dân cách trồng trọt chăn nuôi. Đền Suối Mỡ với những nét cổ kính và những giá trị văn hóa lịch sử được lưu giữ tại đây đã được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1988. Lễ hội đền Suối Mỡ diễn ra hằng năm vào ngày 30 tháng 3 và mồng 1, mồng 2 tháng 4 Âm lịch nhằm cầu mong mùa màng tốt tươi và cũng là dịp để mọi người tỏ lòng biết ơn với công chúa Quế Mỵ Nương thu hút hàng nghìn du khách thập phương đến cầu phúc, cầu tài... Lễ hội mang đậm bản sắc dân tộc đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia năm 2015. Cùng đó, Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ còn có những di tích phụ cận khác như: Đền Trần, đền Cậu Bé Lệch, đền Cô Bé Cây Xanh, đền Quan...; những di tích lịch sử về một thời hào hùng của dân tộc như: Bãi Quần Ngựa, khu Ba Dinh Bảy Nền thời nhà Trần...; những di tích mang đậm dấu ấn Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử như: Chùa Hồ Bấc, chùa Hòn Trứng... tạo ra quần thể du lịch văn hóa, tâm linh Suối Mỡ. Một trong những điểm khiến bất cứ du khách nào đã từng đến Suối Mỡ không thể quên được đó chính là vẻ đẹp sinh thái của núi, rừng, suối, thác nơi đây. Nằm trải dài trên diện tích hàng ngàn ha, hệ thống rừng nguyên sinh của Suối Mỡ hết sức phong phú và đa dạng là điều kiện phát triển bền vững loại hình du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng. Suối Mỡ có hai hệ thống thác chính là thác Suối Mỡ và thác Thùm Thùm mang vẻ đẹp kỳ vĩ và nên thơ. Mỗi hệ thống thác lại có nhiều bậc thác hùng vĩ, mỗi bậc mỗi vẻ và đặc biệt dưới chân những bậc thác này đều có những bồn tắm tự nhiên hết sức kỳ thú. Đến với Suối Mỡ vào những buổi trưa hè nắng nóng, du khách sẽ được ngâm mình trong làn nước trong mát rồi để mặc cho làn nước từ trên cao dội xuống mơn man khắp cơ thể như một môn vật lý trị liệu giúp xua tan đi những căng thẳng mệt mỏi sau những ngày làm việc vất vả hay chọn cho mình không gian riêng trên những chiếc ghế, chiếc giường bằng đá để nghỉ ngơi và cảm nhận vẻ đẹp của núi rừng Suối Mỡ. Trong Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ còn có hồ chứa nước Suối Mỡ với tổng diện tích mặt nước hơn 30 ha, quanh lòng hồ là những bãi cỏ xanh bằng phẳng thích hợp cho các loại hình du lịch như: Dã ngoại cắm trại, câu cá, bơi thuyền… Cùng đó, với hệ thống rừng nguyên sinh, cao nguyên đá Suối Mỡ là điểm đến hấp dẫn của các bạn trẻ đam mê loại hình du lịch phượt, leo núi khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên nơi đây. Suối Mỡ được xác định là điểm nhấn quan trọng trong phát triển du lịch của tỉnh Bắc Giang, luôn được chú trọng đầu tư xây dựng. Thời gian qua, cơ sở hạ tầng Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ từng bước được hoàn thiện. Nhiều hạng mục đầu tư quan trọng với tổng số tiền hàng trăm tỷ đồng như: Công trình hồ Suối Mỡ, khu rừng bảo vệ cảnh quan Suối Mỡ, dự án đầu tư hạ tầng khu du lịch; nâng cấp sửa chữa đền Hạ, nhà hát Văn và khuôn viên; cầu treo Đền Trần; công trình tuyến đường du lịch quanh hồ Suối Mỡ; công trình tu bổ, tôn tạo khu di tích đền Trung…

Bắc Ninh

Từ tháng 1 đến tháng 12

7610 lượt xem

Chùa Đức La

Chùa Đức La (hay còn được biết đến là chùa Vĩnh Nghiêm) nằm trên một quả đồi thấp tại thông Đức La, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Chùa Đức La nằm cách trung tâm thành phố khoảng hơn 18 km. Có lẽ vì vậy, mà nơi đây không vướng những cái ồn ào, tấp nập của thành thị. Chùa được xây dựng từ đầu thời Lý Thái Tổ (1010-1028) cho tới thời vua Trần Thành Tông (1258-1278), chùa là nơi có nhiều vị cao tăng tu hành. Do đó, chùa đã được tu tạo nguy nga và lộng lẫy hơn. Chùa cũng là nơi mà vua Trần Nhân Tông đến thụ giới và sáng lập nên Thiền phái Phật giáo Việt Nam. Tại chùa Đức La, vua Trần Nhân Tông cùng Pháp Loa và Huyền Quang đã tạo nên Trúc Lâm Tam Tổ của thiền phái Trúc Lâm. Chùa Đức La nổi bật với phong cảnh thiên nhiên hữu tình, nên thơ. Chùa nằm trên một quả đồi thấp, ở nơi lưu hợp của sông Lục Nam và sông Thương. Bao quanh chùa là núi Cô Tiên. Một vị trí tuyệt vời, giao thoa giữa núi sông. Không ồn ào, nhộn nhịp, đứng ở nơi đây, con người như được hoà mình vào giữa mênh mông trời đất. Chùa Đức La được đặt trên khuôn viên rộng với diện tích khoảng 10000 mét vuông. Mở đầu là cổng Tam Quan và sau đó là Tiền Đường. Bước vào sân chùa, những dấu ấn xưa cũ vẫn còn được lưu trữ hiển hiện ngay trước mắt. Trong đó, tấm bia to 6 mặt năm Hoằng Định được xem là lâu đời nhất. Chùa Đức La có lối kiến trúc độc đáo, được lưu giữ từ hàng ngàn năm. Chùa có cấu trúc với 4 khối: chùa hình chữ “công”, hai bên có các dãy Tả vu, Hữu vu. Các dãy trong chùa đều rộng rãi gồm 18 gian. Chùa Đức La còn được biết đến bởi các giá trị điêu khắc tinh xảo, điệu nghệ. Thể hiện rõ nét nhất thông qua hệ thống tượng Phật được sắp xếp ở 3 khối nhà chính: Tam bảo, Nhà Tổ đệ nhất và Nhà Tổ đệ nhị. Bên cạnh đó, trong chùa còn lưu giữ lại nhiều di vật có giá trị. Phải kể đến bức hoành phi – câu đối cùng hệ thống văn bia với 8 tấm ghi lại tiến trình lịch sử và phát triển của Trung tâm Phật giáo Vĩnh Nghiêm.

Bắc Ninh

Từ tháng 1 đến tháng 12

7473 lượt xem

Di tích gần

Xem tất cả

Đền Đô và khu Lăng mộ các vị vua triều Lý

Khu lăng mộ và đền thờ các vị Vua triều Lý là chứng tích lịch sử về làng Cổ Pháp xưa và Đình Bảng ngày nay; là đất phát tích, tôn miếu thờ các vị vua triều Lý và còn là nơi an táng của các vị tiên vương và hoàng tộc nhà Lý. Triều Lý (1009 - 1225), từ khi Thái Tổ (Lý Công Uẩn) lên ngôi, dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long (1010), trải qua 8 đời vua, truyền ngôi được 216 năm, là giai đoạn nhà nước phong kiến độc lập tự chủ,vững mạnh, nhân dân được sống trong cảnh thái bình, thịnh trị. Khu di tích là công trình kiến trúc đặc sắc, với nghệ thuật điêu khắc đá, điêu khắc gỗ, tạc tượng thờ, kỹ thuật xây dựng đều đạt ở mức tinh xảo và nhiều giá trị di sản văn hóa phi vật thể được bảo lưu: tín ngưỡng thờ cúng, lễ hội, phong tục, tập quán.... Khu lăng mộ các vị vua triều Lý còn là di chỉ khảo cổ đặc biệt quan trọng phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học. Di tích có nhiều tên gọi khác, như Đền Đô, Cổ pháp Điện/Đền thờ Lý Bát Đế và Khu lăng mộ các vị Vua triều Lý (Thọ lăng Thiên Đức hay Sơn lăng cấm địa); bao gồm 2 khu vực chính là: Đền Đô và Khu lăng mộ các vị Vua triều Lý (Sơn lăng cấm địa). 1. Đền Đô: tổng diện tích 31.250m2, được phân chia thành khu nội thành và ngoại thành. Ngoại thành: rộng 26.910m2, gồm các hạng mục hồ bán nguyệt, nhà thủy đình, nhà văn chỉ bên phải, nhà võ chỉ bên trái. Nội thành: rộng 4.340m2, được chia thành khu nội thất và ngoại thất. Nội thất gồm: hậu cung, nhà chuyển bồng, nhà tiền tế, nhà bia và nhà để 8 kiệu thờ, nhà để 8 ngựa thờ ở hai bên. Ngoại thất gồm: phương đình, đền Vua bà, nhà chủ tế, nhà khách, nhà trưng bày, hội trường, ngũ long môn, sân đền, tượng voi, sấu đá… 2. Khu lăng mộ các vị Vua triều Lý (Sơn lăng cấm địa) Khu lăng mộ là nơi an nghỉ cuối cùng của các vua triều Lý, cách đền Đô khoảng 800m về phía Đông Bắc, nằm ở khu Ao Sen, thuộc cánh đồng phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ngày nay, khu lăng mộ các vị vua nhà Lý bao gồm những công trình sau: - Lăng vua Lý Thái Tổ - Lăng Lòng Chảo - Lăng Cả (vua Lý Thái Tông) - Lăng Hai (còn gọi là lăng Con) thờ vua Lý Thánh Tông - Lăng Con Voi (vua Lý Nhân Tông) - Lăng Đường Gio (vua Lý Thần Tông) - Lăng Đường Thuấn (vua Lý Anh Tông) - Lăng vua Lý Cao Tông - Lăng vua Lý Huệ Tông - Lăng bà Nguyên Phi Ỷ Lan - Lăng Phát Tích (lăng Bà Phạm Thị) Hiện vật ở di tích đền Đô và Khu lăng mộ các vị vua triều Lý còn lại không nhiều, có thể kể đến như 8 bài vị ghi tên các vua Lý được sơn son thếp vàng, chạm khắc vào thời Lê, đỉnh đồng, hạc đồng và một số bát đĩa có niên đại thời Lê. Đặc biệt còn một bia đá, niên đại 1604 do Tiến sỹ Phùng Khắc Khoan soạn ghi công đức các vua Lý. Ngoài ra, các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng dân gian và thờ các vị vua triều Lý vẫn được duy trì và trở thành truyền thống ở đền Đô. Hằng năm ở Đình Bảng diễn ra 3 lễ hội chính: - Hội chùa vào ngày mùng 7 tháng Giêng. - Hội đình vào ngày 15 tháng Hai, diễn ra 2 ngày chính (từ ngày 14 đến ngày 15 tháng Hai). - Hội đền vào ngày 15 tháng Ba, được diễn ra tại đền Đô. Với giá trị đặc biệt, di tích lịch sử Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Lý được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt ngày 31/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ. Nguồn: Cục Di sản văn hóa

Bắc Ninh 7735 lượt xem

Xếp hạng : Di tích quốc gia đặc biệt Mở

Đình Vân Cốc Xã Vân Trung

Đình Vân Cốc hay còn có tên nôm là đình Bài Cả, nhân dân trong vũng thường gọi là đình Bài. Ngôi đình Bài Cả xưa kia thờ chung thành hoàng đức thánh Cao Sơn Đại Vương với đình Bài Xanh, vì có một lý do nào đó nên đã chia ngôi đình này ra (thượng đình thôn Xanh, hạ đình thôn Bài. Cả hai ngôi đình đều nằm dưới chân núi phía tây núi Bài một trong những dãy núi thuộc dải Nham Biền Sơn hay núi neo 99 ngọn. Làng nằm trải dài theo triền núi như hình con Cốc đang tung cánh bay, mắt nhìn xuống đồng chiêm trũng vốn là hồ Lãng Bạc ngày xưa. Nhìn từ trên cao làng Vân Cốc như một con Cốc Lớn, thân là núi Bài, đầu là núi Đồn, hai cánh dài sải rộng ra hai bên là làng Vân Cốc. Ngôi đình nằm gọn dưới hai mắt con cốc. Đình Vân Cốc thuộc xã Vân Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Là nơi thờ Thành hoàng làng là đức thánh Cao Sơn Đại Vương. Đức Cao Sơn quê ở Động Lăng Xương, huyện Thanh Châu, phủ Gia Hưng, đạo Sơn Tây. Ông là con của hai cụ Nguyễn Hành và Đẩu Thị Loan, ông sinh ra là do bố mẹ được báo mộng-người thần đầu thai. Cho nên lớn lên ông rất thông minh võ nghệ, am hiểu thiên thư. Khi đất nước có giặc ngoại xâm, vua Duệ Vương đã hạ chiếu đi khắp nơi tìm người tài giỏi, đức hiền ra giúp nước. Ông liền về triều ứng tuyển và được trọng dụng ngay, ông được Tản Viên Sơn Thanh phong làm tiền đạo thượng tướng quân. Được nhân dân địa phương hết lòng giúp đỡ- thần nhân âm phù, chẳng mấy thời gian Ngài đã làm xong, khi gặc Thục tới nơi liền bị quân tướng của Ngài đánh cho tơi tả (sau đó phải cầu hoà với nhà Hùng). Giặc Thục bình xong, ông trở lại tráng khi khi trước đã đóng luỹ đồn để báo đáp lòng dân. Xong xuôi ông lại được lệnh hồi triều. Rồi vua cho ông về ăn lộc ở Thanh Hoá và ở đó triều đình có sắc phong cho ông làm Thượng Đẳng Phúc thần và sức cho các nơi mà khi trước đi đánh giặc đã qua được dân trợ giúp phải lập nơi thờ phụng mãi mãi về đức thánh Cao Sơn Đại Vương. Theo ngọc phả của Đình thì Trang Vân Cốc trước đây có một ngôi miếu cổ tại khu đất đình thông, sau đó chuyển rời về giữa làng. Ngôi đình hiện tại dựng năm Mậu Tý- triều Lê Cảnh Hưng (1788) do Dương Tướng Công – Tự Quốc Cơ hưng công xây dựng. Đình hiện còn 5 gian 2 trái 1 ống muống 2 gian, 3 gian hậu cung có sàn gỗ cao rộng. Trước đình còn 2 tấm bia vuông. Di vật hiện còn là 8 bức cửa võng vững chắc uy nghi, 4 đôi câu đối, 10 bức hoành phi, 2 sập thờ long phù hổ phục, 2 cỗ đài nước, 2 giá quán tẩy, 2 hòm sắc phong, 1 quyển sắc phong thần hiệu, 1 quyển ngọc phả , 1 cây hương đá, 1 hòm đựng bộ đòn bát cống, 2 xương quạt, 2 xương tàn lọng, 2 ngựa thờ lớn, 1 bộ chấp kích hơn 20 chiếc, một bộ bát bửu, một mui luyện, 1 long đình, 1 hương án cổ, 2 ngai thờ, 2 bài vị. Tất cả đều được sơn son thiếp vàng lộng lẫy. Một trống, một chiêng và một số cây đèn đá, giá nến… Cùng với chiến công chói lọi trên chiến tuyến sông Như Nguyệt, địa điểm lịch sử Núi Đồn là nơi riễn ra những trận chiến đấu vô cùng ác liệt của quân dân ta thời Lý chống quân xâm lược Tống xâm lược.Đây cũng là nơi đón đánh thắng lợi và truy đuổi kẻ thù dân tộc ra khỏi bờ cõi. Bởi sau trận quyết chiến lược thần tốc, dũng mãnh của quân dân ta vào tập đoàn quân do chánh tướng Quách Quỳ chỉ huy ở đây, âm mưu xâm lược của kẻ thù đã bị đập nát, Quách Quỳ cam chịu thất bại cay đắng. Nhằm đêm tối hạ lệnh rút tàn quân về nước, dẫm đạp lên nhau (như chính sử nhà Tống đã phải thừa nhận). Đình Vân Cốc đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật quốc gia , ngày 21/01/1989). Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Thị Xã Việt Yên Tỉnh Bắc Giang

Bắc Ninh 7461 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia Mở

Chùa Vĩnh Nghiêm

Chùa Vĩnh Nghiêm, còn được gọi là chùa Đức La, là một ngôi chùa cổ tại làng Đức La, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Chùa Vĩnh Nghiêm là ngôi chùa cổ, là nơi lưu giữ lại bộ mộc bản gốc duy nhất của Phật phái Trúc lâm. Đã được UNESCO trao Bằng công nhận 3000 mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm là di sản tư liệu ký ức thế giới. Chùa được công nhận là một trung tâm Phật giáo, nơi đào tạo tăng đồ cho cả nước, nơi phát tích Tam Tổ phái Thiền Trúc Lâm của Phật giáo Việt Nam. Năm 2015, chùa được Nhà nước Việt Nam công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt. Chùa Vĩnh Nghiêm tọa lạc nơi hợp lưu của sông Lục Nam và sông Thương (gọi là ngã ba Phượng Nhãn). Chùa nhìn ra ngã ba sông, phía Lục Đầu Giang - Kiếp Bạc, vùng Cẩm Lý cửa ngõ ra vào núi Yên Tử. Bao quanh chùa là núi non trong đó có núi Cô Tiên. Bên kia sông là vương phủ của Trần Hưng Đạo, đền Kiếp Bạc. Tương truyền chùa Vĩnh Nghiêm được khởi dựng vào thời Lý (thế kỷ XI). Cuối thế kỷ XIII, (1010-1028) Phật hoàng Trần Nhân Tông cho mở mang, xây dựng nơi đây thành trung tâm Phật giáo lớn của thời Trần, đổi tên chùa là Vĩnh Nghiêm, gắn liền với sự ra đời và phát triển của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Với vai trò là một trong chốn tổ của thiền phái, chùa Vĩnh Nghiêm được xây dựng với quy mô kiến trúc bề thế, nhiều hạng mục, mang tính quy chuẩn, mẫu mực của kiến trúc chùa tháp truyền thống. Đây là ngôi chùa cổ có kiến trúc giàu bản sắc Phật Việt nhất mà không ngôi chùa nào trong vùng có được, xứng danh là một “đại danh lam cổ tự”. Trong chùa còn thờ Tượng Phật, tượng các vị Tổ dòng Trúc Lâm, tượng các vị sư Tổ sau này, tượng Hộ pháp, tượng La Hán… Trong chùa còn có chiếc mõ dài gần nửa mét, được sơn đen bóng, lỗ thoát âm có đề hai dòng chữ Phạn. Chùa Vĩnh Nghiêm xưa là nơi đào luyện tăng đồ Phật giáo nên là nơi tàng trữ để các bộ ván kinh xưa rộng tới 10 gian nhà. Đó là những bộ ván kinh có từ 700 năm nay, là kho sách cổ vô cùng quý giá, như: Sa di tăng Sa di lì tỷ khiêu lỵ (348 giới luật), bộ Yên Tử nhật trình từ thế kỷ 15 (quá trình hình thành phái Trúc Lâm), Hoa nghiêm sớ, Di đà sớ sao, Đại thừa chỉ quán, Giới kinh ni... Ngày nay có nhiều kệ ván in kinh sử vẫn còn tại chùa. Người xưa gọi đây là khắc in, minh chứng chùa Vĩnh Nghiêm từng thống lãnh 72 chốn tùng lâm. Hiện nay, kho mộc thư vẫn lưu giữ được 34 đầu sách với gần 3000 bản khắc, mỗi bản có hai mặt, mỗi mặt 2 trang sách khắc ngược (âm bản) khoảng 2000 chữ Nôm, chữ Hán. Những bản khắc đó vẫn được lưu truyền tại nước ta với từng nét chữ sắc xảo, tinh tế. Ngày nay, những giá trị đó vẫn còn giữ nguyên bản, không bị hao mòn giá trị. Diện tích chùa khoảng 1 ha, bao quanh chùa là lũy tre dày đặc. Hiện nay, chùa được tu tạo và tạo điều kiện thuận lợi cho du khách đến du lịch và lễ bái. Du khách có thể đi theo lộ trình như: cổng tam quan, đi sâu vào khoảng 100m nữa là bái đường hay còn gọi là chùa Hộ. Hai bên đường chùa được xây dựng những khóm thông khoảng tầm 1m để tạo thành tùng lâm. Trên sân chùa có một bia đá to, gồm 6 mặt dựng năm Hoằng Định thứ 7 (1606). Ngay trước mặt tấm bia cổ là vườn tháp mộ của 5 vị sư: Phù Lãng Trung pháp (hiệu Sa môn), Thông Duệ ứng Duyên, Thanh Quý, Tịnh Phương Sa môn, Thanh Hanh và một số tháp khác. Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm được tổ chức vào ngày 14 tháng 2 âm lịch. Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Giang

Bắc Ninh 7440 lượt xem

Xếp hạng : Di tích quốc gia đặc biệt Mở

Đình Phúc Long

Đình Phúc Long thuộc xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Đình Phúc Long là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng và văn hoá truyền thống của nhân dân làng Phúc Long xưa cũng như nay. Đình làng là nơi thờ phụng của toàn dân, đồng thời cũng là trung tâm tổ chức lễ hội của làng trong các dịp tết, lễ thể hiện lịch sử lâu đời và truyền thống văn hiến của làng Phúc Long. Căn cứ vào thần tích khắc trên bia đá chiều vua Tự Đức, đồng thời theo truyền thuyết của nhân dân địa phương, cho thấy đình làng Phúc Long thờ các vị thần âm phù, linh ứng, giúp vào việc đánh giặc cứu nước, bảo vệ quê hương. Ngoài ra, nhân dân Phúc Long còn thờ Nhuệ Quận Công Lê Tướng Công, vị quan triều Lê đã có công giúp dân tu dựng lại chùa và đình làng Phúc Long. Đó là ngôi đình, chùa còn lại đến ngày nay. Nhớ ơn ông dân làng đã khắc bia ghi công đức của ông và thờ quan tướng công làm hậu thần, hàng năm cúng tế ông và ngày giỗ 10 tháng 7, gọi là giỗ đức cụ. Văn tế quan tướng công đọc trong ngày giỗ. Có chung tín ngưỡng là thờ Trời, Đất và Nước- những yếu tố gắn bó mật thiết đến cuộc sống của người dân làm nông nghiệp lúa nước. Giá trị của đình Phúc Long không chỉ ở niên điểm khởi dựng cổ xưa, trên 300 năm cách ngày nay, mà điểm chủ yếu là ở quy mô to lớn và kiểu thức kiến trúc độc đáo và nghệ thuật chạm khắc, trang trí tài nghệ, tinh xảo. Điều cuốn hút nhất ở đình Phúc Long là phần trang trí, trạm khắc trên các bộ phận kiến trúc: như trên các đầu dư, đẩy bẩy, ở các bức cuốn, ở cửa võng trước hậu cung đình, ở các mi môn, ở các yếm cột (hay còn gọi là côn tai cột), đều được trạm khắc các hình trang trí với nhiều đồ án khác nhau. Khác với nhiều đình khác, toàn bộ khung gỗ của đình Phúc Long đều để trần, không sơn son thiếp vàng, phô diễn tất cả sự tinh tế, tài khéo của những người thợ dựng đình. Điều rễ nhận biết ở kết cấu kiến trúc và nhất là phần chạm khắc, biểu lộ hai hiệp thợ mộc tham gia xây dựng ngôi đình. Vì vậy phong cách kiến trúc, nhất là phần chạm khắc, biểu lộ hai phong cách khác nhau, trạm khắc tinh tế, tỉa tót, đường nét trau chuốt, mềm mại. Song tất cả đều hoà quyện vừa thống nhất, vừa phong phú, đa dạng, phản ánh những nét chung nhất của nghệ thuật kiến trúc, trạm khắc thời Lê giai đoạn cuối thế kỷ XVII, mang đậm nghệ thuật dân gian: Hồn nhiên, phóng khoáng. Các hình trang trí phổ biến là chạm nối, chạm kênh bong các hình “tứ linh”, “tứ quý” với các biến thể rồng, nghê, phượng, mặt hổ phù, long hoá, lý hoá… vô cùng phong phú. Đình Phúc Long chính thức được Bộ Văn hoá và Thông tin công nhận là di tích lịch sử nghệ thuật cấp quốc gia năm 1993. Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Thị Xã Việt Yên Tỉnh Bắc Giang

Bắc Ninh 7410 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia Mở

Chùa Hàm Long

Chùa Hàm Long (hay Long Hạm) thuộc khu Thái Bảo, phường Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, được khởi dựng từ thời Lý (khoảng thế kỷ XII). Theo con mắt dân gian thì chùa nằm ở thế hàm rồng, nghĩa là dưới hàm một con rồng lớn dài 9 khúc, đó chính là cả dãy Lãm Sơn. Đây là trung tâm Phật giáo lớn, tương truyền là chỗ tu hành của sư Dương Không Lộ. Tọa lạc trên diện tích đất hơn 9.000m2, chùa có vị trí cảnh quan đẹp, hòa hợp với thiên nhiên, được mệnh danh là danh lam cổ tự có lịch sử lâu đời, các công trình kiến trúc được thiết kế, trang trí theo lối truyền thống, chạm khắc tinh xảo, nghệ thuật. Ngày nay, Chùa Hàm Long là trung tâm sinh hoạt tâm linh của nhân dân địa phương và thập phương quanh vùng, nơi tôn thờ phật pháp, là nơi hướng chúng sinh đến với điều thiện tránh xa điều ác, sống từ bi hỷ xả. Ngôi chùa hiện nay có quy mô lớn gồm các công trình: cổng Tam Quan, Tam Bảo, nhà Tổ, nhà Mẫu, nhà Khách, nhà Tăng và các công trình phụ trợ. Tam bảo chùa được làm bằng gỗ lim, kết cấu hình chữ Đinh, gồm Tiền đường 7 gian, kết cấu vì nóc “chồng rường giá chiêng”, vì nách “kẻ ngồi cốn mê” và 3 gian Thượng điện kết cấu vì nóc “chồng rường giá chiêng”, vì nách “kẻ ngồi”. Chùa thờ 7 vị Tổ, thờ Mẫu, thờ ông Đỗ Trọng Vỹ, ông nổi tiếng là người thông minh hiếu học và sau trở thành vị quan thanh liêm, nhà giáo, nhà văn hóa, đặc biệt ông là người có công khởi dựng Văn Miếu Bắc Ninh. Sau khi về già ông về chùa Hàm Long tu trì, sau khi ông mất được thờ phụng tại đây. Hiện nay, chùa Hàm Long vẫn duy trì nghi thức gửi vong cho các vong linh mất vào các giờ hung, giờ phạm. Để tránh tai ương, tật ách, gia đình của vong linh thường gửi vong lên chùa Hàm Long để sớm được trì trú, phổ độ, để các vong linh sớm được vãng sinh, siêu thoát về cõi cực lạc. Các công trình kiến trúc trong khuôn viên Chùa được chạm khắc trang trí tinh xảo, nghệ thuật với một diện mạo khang trang tố hảo. Chùa có ngày hội vào ngày 14 tháng 2 âm lịch, ngoài ra trong năm còn các ngày như: lễ Phật Đản, lễ Vu Lan, tuần Rằm, Mùng một, dịp lễ hội truyền thống, Tết nguyên đán. Chùa cũng đón nhiều đoàn khách trong nước và nước ngoài, các lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước về thăm lễ Phật. Chùa được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hoá, ngày 18/01/1988. Nguồn: Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh

Bắc Ninh 7182 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia Mở
×
Hỏi AI