Đền Hoàng Minh Tự Sầm Sơn nằm tại địa bàn phường Trường Sơn, thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Lịch sử của đền có tên thường gọi như “Hoàng Minh Tự” tên này là được đặt tên theo nhân vật, còn được đặt theo vị trí địa lý còn có tên gọi là đền Hạ hay còn gọi là đền đệ Tam (Sở dĩ gọi tên đền Hạ vì đền nằm ở chân núi Trường Lệ). Phía chân núi có đền Trung (thờ Tô Hiến Thành) đỉnh núi có đền Thượng hay còn gọi là đền Độc Cước. Về nhân vật Hoàng Minh Tự, thần họ Hoàng úy là người Bách Việt từ Nam Hoàng Hà (Trung Quốc) đến Việt Nam rồi ở lại một xã thuộc huyện Hậu Lộc Thanh Hóa. Khoảng năm Long Khánh đời nhà Trần(1373 - 1377) có giặc Chiêm thành đến xâm lấn. Vua nhà Trần thân chinh đi đánh giặc, ông đứng giữa đường đón và xin theo đi đánh giặc. Vua bèn sai ông làm đốc vận quân lương. Ông hoàn thành nhiệm vụ tốt và được vua Trần phong trước “Minh Tự”. Vì vậy nhân dân quen gọi ông là “Hoàng Minh Tự”. Khi ông mất triều đình sai dân lập đền thờ ở Thanh Hóa, theo thông kê của sách có (06) nơi thờ là: Xã Uy Hồ thôn đồng Lạc, thôn Xuân Lôi (Nay là xã Xuân Kỳ - Lộc Tân – Hậu Lộc;) thôn trường Lệ, xã Du Vịnh; Sơn thôn huyên Quảng Xương, đại danh Sơn thôn chính là đền Hoàng Minh Tự mà chúng ta đang thờ phụng đến nay đã hơn 700 năm – Là nơi thờ chính (Làng núi chính là phường Trường Sơn, hiện nay). Đền “Hoàng MinhTự” có kiến trúc kiểu chuôi vồ. Có ba thành phần chính là tiền đường, trung đường, hậu cung. Đây là kiểu kiến trúc đền sớm nhất của nước ta trong đền hiên vật cổ của đền không còn nhiều. Chỉ còn một số hiện vật như hương án, long ngai, đại tự (bức đại tự sơn son thiếp vàng ghi chữ hán”Tối linh từ” tức là đền rất thiêng). Có bốn đạo sắc phong,một cỗ kiệu song loan,một bộ áo chầu.Những hiện vật này được bảo quản tốt (Đang lưu giữ và bảo quản tại đền Độc Cước chờ ngày rước về đền Hạ . Căn cứ vào dòng chữ ghi trên thương lương ,tiền đường .Lần trùng tu gần đây nhất là vào năm bảo đại thứ ba 1928 đến nay (đã tròn 80 năm).Toàn bộ kết cấu cột, xà dọc và bộ vì kèo đền làm bằng vật liệu xi măng cốt thép, làm theo kiểu vuông thành chữ nhật. Các bộ phận như kẻ, đấu, dường đố đều có trang trí họa tiết hoa văn hình mây lá. Hai bức tượng Võ quan đắp bằng vôi mật ( Do công ty tư vấn và thiết kế công trình văn hóa Bộ văn hóa – thông tin, kiểm tra và thống kê tháng 10 năm 2002). Thần “Hoàng Minh Tự” là vị thần mà các nhà nghiên cứu cho biết Thanh Hóa có 06 nơi thờ. Song phường Trường Sơn chúng ta tự hào có đền Hoàng Minh Tự là đền chính, thần “Hoàng Minh Tự” là biểu tượng hoàn hảo của tinh thần đoàn kết cộng đồng, sự lao động cần cù sáng tạo, chống lại các thế lực xấu xa, vì cuộc sống bình yên của nhân dân .vv… mà hậu sinh chúng ta đời nào cũng phải học tập. Thần Hoàng Minh Tự là hình tượng cao đẹp, không mang danh lợi, vì cuộc sống bình yên của nhân dân .vv… mà mỗi chúng ta, ai ai cũng cần học tập noi theo, xin thắp một nén hương, trầm mặc dâng lên đấng thần linh, tổ tiên mà tự nhủ với lòng mình: Hãy rũ bỏ những gì xấu xa, khuất tắt mà làm nhiều việc thiện, làm nhiều việc tốt đẹp góp phần mình xây dựng, điểm tô cho cuộc sống này, cuộc sống hiện tại và tương lai tốt đẹp hơn. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa .
Thanh Hóa
4933 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh
Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh là một ngôi chùa cổ có từ trước thời Lý và được xếp hạng di tích quốc gia; chùa thuộc địa phận thôn Duy Tinh, xã Văn Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Chùa cũng là nơi thờ đại tướng Trần Hưng Đạo. Xã Văn Lộc, huyện Hậu Lộc xưa kia là trị sở của quận Cửu Chân gần 400 năm (suốt thời Lý, Trần). Thái úy Lý Thường Kiệt đã từng ở đây 19 năm. Cuốn từ điển di tích văn hoá Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học &Xã hội (trang 582) ghi về chùa như sau: "Chùa có từ lâu, trước đời Lý. Vua Lý Nhân Tông đi tuần phương nam, xa giá dừng ở trị sở châu Ái (Thanh Hoá) rồi trở về... để báo ơn vua, chúc quốc vận trường tồn, Thông phán Chu Công (người được vua nhà Lý cử trấn giữ, cai quản Thanh Hóa) bàn giao cho huyện lệnh là Lê Chiếu dựng lại ngôi chùa cổ đã đổ nát. Dân bản huyện góp lương, góp sức, san gò, lấp trũng, thợ mộc, thợ nề, gắng sức trong 2 năm dựng xong chùa vào cuối năm mậu tuất (Hội Tường Đại Khánh 9) (1118). Quy mô kiến trúc to lớn, xây dựng chạm trổ công phu…. Qua các triều đại tiếp theo, Chùa là thiền viên có danh tiếng ở Ái Châu. Do biến động của lịch sử, chùa bị đổ nát. Năm 1952 toà tiền đường đã bị bom Pháp làm sập; tấm bia thời Lý bị sứt trán…Sau đó, chùa được các nhà sư và nhân dân quanh vùng sửa chữa lại với quy mô nhỏ, diện tích chùa bị thu hẹp. Sau này, chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh đã được Bộ Văn hoá đưa vào danh sách Di tích quốc gia Việt Nam ngày 13/3/1990. Chùa được tu bổ lớn từ năm 1997: gác chuông, trung đường, toà tiền đường tôn tạo hoàn thành năm 2001 có kiến trúc đẹp gồm tám mái, với các cột xà, cửa… toàn bằng gỗ lim, nhà tổ cũng được tu bổ năm 2005, cầu đá năm 2007… Bộ Văn hoá thông tin đã đồng ý cho ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá phê duyệt dự án tổng thể tôn tạo chùa chính và khuôn viên chùa. Đến nay (2010), phần tôn tạo cơ bản đã hoàn thành. Ngoài ra, cùng với sự đóng góp của phật tử khắp nơi, nhà chùa còn cải tạo được hồ sen trước chùa và xây cây cầu vòm bắc qua hồ sen dẫn vào chùa, tạo nên vẻ đẹp cổ kính vốn có của các ngôi chùa cổ. Hiện nay chùa còn nhiều hiện vật quý của thời Lý mà các di tích cùng thời không có. Cụ thể là: hàng rồng lớn chạm trên đá là những phần còn lại của cây tháp lớn, những đầu rồng và phượng bằng gốm rất lớn mang tư cách những con vật vũ trụ. Trên tam bảo còn để lại 3 bệ đá hoa sen tương tự bệ đá ở chùa Thầy Hà Nội, nhưng các bệ đá này đã được làm kĩ hơn ở các làn sóng dưới chân. Trong chùa còn nhiều tượng gỗ rất quý, đặc biệt là 3 pho tượng quan âm bằng gỗ được tạc vào khoảng giữa thế kỷ 17. Những đồ thờ trong chùa như bàn, ngai, khám, ỷ đã có suốt trong các thế kỷ 17, 18, 19. Chuông của chùa được đúc vào năm Gia Long thứ 11 (1812). Ngay sau khi bước qua cây cầu đá dẫn vào chùa, du khách sẽ thấy hai tượng Hộ pháp uy nghi ngay trước cổng chùa. Bước qua cổng là đến khuôn viên chính của Chùa. Bên phải là tiền đường phụ dành cho các gia chủ làm lễ. Bên trái là dãy nhà ở dành cho tăng ni trong chùa. Tiền đường chính ở giữa khá lớn và hầu hết các hoạt động tế lễ đều diễn ra ở đây. Bước qua bậc cửa, du khách sẽ thấy hiện ngay trước mặt là rất nhiều pho tượng lớn uy nghi trải dài mãi tận sâu bên trong. Ngay bên trái sảnh đường là kệ thờ các thân nhân phật tử quá cố được gửi vào chùa. Du khách có thể đi sâu vào bên trong khám phá tài năng của các nghệ nhân hoặc chứng kiến quang cảnh của các buổi cầu siêu. Chùa tổ chức lễ hội hàng năm từ ngày 8-10/2 âm lịch thu hút không những bà con phật tử nhiều nơi mà còn cả vị đại biểu của tỉnh và huyện cũng như khách thập phương về dự. Vào mùng một tết Nguyên đán, nhân dân trong huyện đi lễ rất đông. Nguồn Cổng thông tin điển tử tỉnh Thanh Hóa .
Thanh Hóa
4436 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Chùa Khải Nam trước năm 1945 nằm trên địa bàn Làng Cá Lập, xã Lương Niệm, Tổng Giạc Thượng (vào đầu thế kỷ 19 đổi thành tổng Cung Thượng), Phủ Tĩnh Gia, Trấn Thanh Hoa. Nay là xã Quảng Tiến, thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Chùa Khải Nam có nhiều tên gọi khác nhau. Trước kia chùa có tên gọi là Chùa ải hay Chùa Giạc. Chùa ải là tên nôm do đọc chệch âm từ chữ Khải, chữ hán tự mà ra, còn tên Chùa Giạc là tên gọi theo địa danh hành chính. Đến cuối thế kỷ 19 thì Chùa Khải Nam mới có tên gọi chính thức bằng chữ hán. Tên Chùa Khải Nam hiểu theo nghĩa thông thường là: Mở rộng lòng từ bi, đón nhận cứu khổ mọi chúng sinh trên Nước Nam. Đã phần nào đã nói lên tư tưởng Phật phái thời Nhà Trần. Chùa Khải Nam xây dựng theo phong cách kiến trúc thời Lê, trước cửa Tam quan có Chợ Chùa với nhiều cây cổ thụ cao to, sầm uất. Tam quan chùa với gác chuông như một hoa sen vuon lên giữa biển lúa xanh rờn, đuợc vun bón bởi phù sa sông Mã bồi đắp. Đây là cụng trình kiến trúc nghệ thuật đậm vẻ kiến trúc của thế kỷ 17. Với nhiều phù điêu, đường nét hoa văn tinh sảo, hài hoà. Tượng Phật trong chùa đều mang giá trị nghệ thuật rất cao, cách thể hiện giáng mẫu, điêu khắc khi tạo hình, hợp với tính truyền thống của người Việt, truyền thống Phật giáo. Các tượng đều được trạm khắc rất kỹ, chau chuốt mềm mại. Khuôn mặt tượng mang dáng vẻ đôn hậu, gần gũi, mắt nhìn xuống trong sự soi rọi nội tâm và mỉm cười cứu độ. Biểu hiện tính nhân đạo rất cao. Hiện nay Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Thanh Hoá còn đang lưu giữ được một số phù điêu hoa văn bằng gỗ rất đẹp của chùa Khải Nam. Trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ cứu nước, các cây cổ thụ, Tam quan, Nhà Tả vu, Tường rào đã được tháo dỡ để phục vụ cho cuộc kháng chiến. Đến năm Đinh Tỵ (1977) do có sự sai lầm về quan điểm giữa truyền thống văn hoá dân tộc với mê tín dị đoan. Chùa Khải Nam đã bị tháo dỡ và hư hỏng, may thay còn rất nhiều số đồ thờ cổ quý giá như Bát hương, Lư hương, Hạc đồng... vẫn còn được địa phương và Phật tử bảo quản, lưu giữ lại. Trên nền Chùa cũ, nay là Trường Tiểu học còn một cây Sanh già gần 300 tuổi hình thù cổ quái rất đẹp. Theo đánh giá của các chuyên gia Sinh vật cảnh trong nước thì cây si có giá trị gần Một Tỷ Đồng. Đây là cổ vật của toàn dân nên đang được địa phương chăm sóc giữ gìn chu đáo. Vào cuối những năm thập kỷ 80, thiên niên kỷ thứ 2. Theo nguyện vọng của nhân dân và các Phật tử. Các Cụ Ngũ hiệu Làng Cá Lập đã kêu gọi nhân dân, Phật tử trong Làng và thập phương phát tâm công đức xây dựng tạm một gian nhà gần 20m2 ngay sát Đền thờ Làng Cá Lập (Di tích LSVH cấp Quốc gia) để thờ Phật. Đến năm Giáp Tuất (1994) do nhu cầu sinh hoạt văn hoá tâm linh, Nhân dân Làng Cá Lập lại đóng góp tu bổ, cơi nới rộng ngôi chùa, tô tạc thêm tượng Phật như hiện nay. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa .
Thanh Hóa
4603 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đền thờ An Dương Vương thuộc địa phận làng Bình Hòa, xã Quảng Châu nằm ở vị trí địa lý thuận lợi về giao thông thủy bộ, có Quốc lộ 47 chạy qua, cùng với con sông Đơ, một nhánh sông bắt nguồn từ sông Lạch Trào chạy qua trước làng về phía Nam, dãy núi Trường Lệ như bức bình phong. Xưa kia làng Bình Hòa thuộc xã Bình An, tổng Cung Thượng, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Ngày nay Bình Hòa chia làm 4 thôn: Châu Bình, Châu An, Châu Thành, Châu Chính. Theo truyền thuyết, sau khi An Dương Vương chém Mỵ Châu và nhảy xuống biển tự vẫn có đánh rơi một chiếc đai vàng vào cánh đồng trước đền bây giờ. Để tưởng nhớ đến công lao dựng nước của An Dương Vương, làng Bình Hòa đã lập đền thờ An Dương Vương và Công chúa Mỵ Châu. Sau này, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, ngôi đền không còn nữa. Năm 1993, cấp ủy, chính quyền cùng nhân dân địa phương đã trùng tu lại đền với các hạng mục: Thượng cung, Trung điện, Tiền đường, Đền thờ công chúa Mỵ Châu, đền thờ Mẫu, đền thờ Bác Hồ...với tổng diện tích gần 4000m2. Năm 1997, đền thờ An Dưong Vương và công chúa Mỵ Châu được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa .
Thanh Hóa
4670 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Ngoài tên gọi dân gian, đền Cá Lập (tọa lạc trên địa bàn làng Cá Lập xưa kia) còn được biết với những tên gọi như: đền thờ Tây Phương Thành hoàng xã Quảng Tiến; Nghè làng Trấp, hay tên chữ là “Tướng công linh từ” - đền thờ vị tướng linh thiêng. Dẫu vậy, dù là tên gọi có thể khác nhau, song di tích chính là nơi thờ phụng vị tướng tài ba mà nhân dân Sầm Sơn bao đời qua vẫn thường gọi tên “Tây Phương Đại tướng quân”. Tương truyền, cuộc đời binh nghiệp của ông gắn liền với cuộc kháng chiến chống giặc xâm lược Nguyên Mông của vương triều Trần và nhân dân Đại Việt xưa kia. Di tích đền Cá Lập trải qua hơn 700 năm khởi dựng và nhiều lần trùng tu vẫn được nhân dân trong vùng gìn giữ, bảo vệ trở thành địa điểm tín ngưỡng tâm linh thể hiện sự ngưỡng vọng của nhân dân vùng biển Sầm Sơn đối với vị tướng tài danh. Với thần tích và giá trị hiện hữu, năm 1999 di tích đền Cá Lập đã được Bộ VHTT công nhận là Di tích Quốc gia. Nguồn Sở Văn hóa , Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa .
Thanh Hóa
4574 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Nằm trong chùa Hưng Phúc, còn gọi là chùa Kênh (xã Quảng Hùng, TP Sầm Sơn), được xây dựng vào cuối mùa đông năm Giáp Tý, niên hiệu Khai Thái nguyên niên (1324) thời vua Trần Minh Tông (1314-1329), tấm bia là tài liệu gốc duy nhất ghi chép về một “hương” chiến đấu dưới thời Trần có sự đoàn kết đánh bại đội quân xâm lược Nguyên - Mông do Toa Đô chỉ huy. Chùa được xây dựng ở hương Yên Duyên để thờ Phật và thờ Thượng tướng minh tự Lê An, người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ nhất (năm 1258), đồng thời được vua Trần Thái Tông phong tướng và cho gả công chúa. Là tướng cận kề Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, nên khi mất, tướng Lê An được triều đình gia phong “Đô Nguyên súy vĩ thống quản, Đại thần trụ quốc, Đại tướng quân” - một tước hiệu rất lớn dưới triều nhà Trần. Xuất phát từ tấm lòng từ bi, hiếu thuận, Lê Bằng - con thứ của Thượng tướng minh tự Lê An, đã khởi công xây dựng chùa năm 1264. Công việc chưa hoàn thành thì Lê Bằng mất, người con thứ là Lê Mạnh tiếp tục công việc và xây lại chùa rộng lớn, đẹp đẽ hơn. Năm 1326 chùa hoàn thành, gồm 11 toà nhà ngói và hai gian thảo lư khang trang, toạ ngự trên thế đất đẹp vừa trang nghiêm vừa thanh nhã. Chùa bị quân Minh xâm lược phá hủy hoàn toàn vào thế kỷ XV, chỉ còn lại tấm bia ghi chiến công của quân dân Đại Việt do tướng Lê Mạnh chỉ huy. Cụ thể, năm 1285, Lê Mạnh chỉ huy dân binh địa phương phục kích cánh quân Toa Đô từ phía Nam đi tắt qua Cổ Khê, tiến vào Thanh Hoá, đánh một trận thắng lớn ở vùng Cổ Bút. Chiến công ấy được ghi tạc trên tấm bia dựng trong chùa, một di vật quý của văn hoá Lý - Trần. Bia cao 1,5 m, rộng 0,6 m, dày 0,25 m, dựng trên lưng rùa đang xoạc chân vươn cổ về phía đông. Trán bia tạc đôi rồng chầu mặt trời uốn khúc cuồn cuộn, khỏe mạnh. Thân rồng để trơn, giản dị, đặc trưng rồng thời Lý - Trần. Bốn chữ Hưng phúc tự bi viết theo lối chữ triện trên trán bia. Hai bên là hai đường viền hoa văn cúc dây và phía dưới là sóng nước được cách điệu cao. Văn bia được soạn khắc năm khánh thành chùa, tức năm Khai Thái thứ 3 (1326), do Đô tướng quân Trần Quốc Chính đại phu soạn. Đây là một trong hơn mười tấm bia thời nhà Trần duy nhất còn lại ở Việt Nam. Bài văn bia có 2 phần: phần trên kể lại việc dựng chùa và thuật lại công tích của Lê Mạnh, phần dưới là bài minh 24 câu, ca ngợi công đức họ Lê. Với giá trị nhiều mặt về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và tư tưởng của tấm bia cổ, ngày 4-9-1995 Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã xếp hạng cấp Quốc gia Di tích bia chùa Kênh. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa .
Thanh Hóa
4727 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đền nằm trên một gò đất cao, tương truyền là nơi an táng của ông và hai người con gái. Đền hướng tây nam, phía trước là cánh đồng sen bát ngát, xa xa là dòng sông Đơ hiền hòa ngày đêm chảy về với biển. Đề Lĩnh người làng Bồng Báo, xã Vĩnh Hùng (Vĩnh Lộc), có tước quan xếp vào hạng tứ đại triều đình dưới thời Vua Lê Tương Dực (1510 -1516), là người tài trí hơn người, văn võ song toàn. Theo sử sách, từ khi được nhà vua giao trấn giữ vùng xung yếu cửa biển Sầm Sơn, ông đã tiến hành khai hoang mở đất, luyện binh, lập trại ngày đêm rèn luyện võ nghệ và chăm lo đời sống yên vui cho Nhân dân nên được mọi người rất mực ca ngợi. Trong một lần quân Minh tràn vào nước ta bằng đường biển, chúng giết dân cướp đất, tướng công Đề Lĩnh đã chiêu mộ binh sỹ đem quân đánh giặc nhưng thế trận chênh lệch lại bị cô lập không có người ứng viện kịp thời nên quân ta đã bị giăc vây hãm. Hai cô con gái của ông vì muốn báo thù cho cha nên đã cầm quân giải vây cho cha. Ba cha con chiến đấu ngoan cường cho tới giây phút cuối cùng. Ghi nhớ công lao to lớn của tướng Đề Lĩnh và hai ái nữ của ông, Nhân dân đã xây mộ, lập đền để ngày đêm kính cẩn hương khói người anh hùng dân tộc. Ngôi đền được nằm trên khoảng đất cao ráo tương truyền là phần đầu rồng linh thiêng, xung quanh là cảnh quan đẹp mắt, non nước hữu tình. Phần mộ Đề Lĩnh được xây dựng kiên cố bên trong ngôi đền.Phần mộ được ốp bới những lớp đá cổ đẹp mắt. Nơi đây còn lưu giữ 9 sắc phong cổ, được xem là báu vật của địa phương. Ngoài ra, còn có nhiều di vật cổ như: Bia ký, khánh đá, lư hương...Bảng văn chỉ có tuổi đời hàng trăm năm cũng được gìn giữ cẩn thận. Vào ngày 17 tháng giêng hằng năm, người dân địa phương lại tổ chức tế lễ hương và mở hội đấu vật để ghi nhớ công ơn đối với vị công thần của đất nước, ông tổ nghề võ vật. rải qua nhiều thế kỷ với không ít thăng trầm nhưng ngôi đền vẫn được Nhân dân chăm lo hương khói và tỏ lòng ngưỡng mộ. Năm 1993 đền đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa .
Thanh Hóa
4739 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Nằm trên núi Trường Lệ, đền thờ Tô Hiến Thành là một ngôi đền cổ nổi tiếng của thị xã Sầm Sơn nói riêng và tỉnh Thanh Hóa nói chung. Đền còn có tên gọi là Đền Đệ Nhị hay đền Trung, là một ngôi đền trong hệ thống ba đền của làng Núi hay Sầm Thôn (Đền Độc Cước là đền Thượng, đền Đệ Nhất; Đền Hoàng Minh Tự là đền Đệ Tam hay đền Hạ). Tương truyền ngôi đền đã có lịch sử trên 800 năm, là nơi thờ Tô Hiến Thành - quan đại thần phụ chính nhà Lý dưới hai triều vua Lý Anh Tông và Lý Cao Tông. Ông là viên quan văn võ song toàn, nổi tiếng là công minh chính trực, được vua phong tước vương mặc dù không phải tôn thất nhà Lý. Trải qua các thăng trầm lịch sử, ngôi đền đã trải qua nhiều lần trùng tu và xây mới. Hiện tại ngôi đền có cấu trúc hình chữ Đinh, gồm 3 cung: Bái đường, Trung đường và Hậu cung. Bái đường có ba gian thờ cộng đồng các quan, là nơi tổ chức các thể thức tế lễ vào ngày lễ hội, giỗ Ngài… Trung đường có gian, là nơi đặt khám thờ và tượng ngài Tô Hiến Thành. Hậu cung đặt khám thánh vị, sắc phong. Khuôn viên đền rộng rãi, có nhiều cây xanh che bóng. Nét cổ kính, rêu phong của ngôi đền. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa .
Thanh Hóa
4546 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đền Cô Tiên nằm trên đỉnh hòn Đầu Voi cuối dãy núi Trường Lệ về phía Tây Nam. Hòn đầu voi là hòn thứ năm trong hệ thống phân loại dân gian. Nó có tên chữ là "Tượng Đầu Sơn" cũng có nghĩa núi Đầu Voi, vì dãy núi Trường Lệ đang chạy dài đến chỗ này chợt nhô ra một hòn hình dáng như đầu con voi đang cúi mình uống nước. Đền Cô Tiên được xây dựng vào thời Lý theo kiểu kiến trúc cổ, gồm 3 lớp: Tiền Đường, Trung Đường và Hậu Cung. Kiểu kiến trúc hình chữ Đinh (hay kiến trúc chuôi vồ). Trải qua bao độ mưa nắng, gió bão và sự tàn phá của chiến tranh ngôi đền đã bị hư hỏng nặng. Ngôi đền đã qua nhiều lần trùng tu tôn tạo. Những năm 90 của thế kỷ XX, Ban quản lý di tích thành phố Sầm Sơn cho sửa chữa lại một số hạng mục. Lần tu sữa gần đây nhất vào năm 2010 Thành phố Sầm Sơn đã trùng tu tôn tạo lại toàn bộ ngôi đền nhưng vẫn giữ nguyên nét cổ kính. Kinh phí xây dựng Đền là từ nguồn tiền công đức của nhân dân và du khách thập phương. Ngôi đền đã được xếp hạng Di Tích quốc gia năm 1962. Nguồn Cổng thông tin tỉnh Thanh Hóa .
Thanh Hóa
4662 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đền Độc Cước là đền thờ vị thần mang cùng tên, một vị thần trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Đền Độc Cước nằm trên đỉnh núi mang tên hòn Cổ Giải thuộc dãy núi Trường Lệ ở thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, ngay cạnh bãi biển Sầm Sơn. Đền được xây dựng vào thời nhà Trần, sang đến thời nhà Lê được được trùng tu lại nhiều lần. Đường lên đền là 45 bậc bằng đá. Tượng thần Độc Cước bằng gỗ chỉ có một tay, một chân. Phía sau đền có Môn Lâu dựng năm 1863 bằng gỗ. Năm 1962 đền được Bộ Văn hóa, Thông tin Việt Nam xếp hạng di tích cấp quốc gia. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa .
Thanh Hóa
5125 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đền Thần Hoàng ở thị trấn Cốc Pài có diện tích gần 4.000m2, được xây dựng kiểu kiến trúc nhà sàn cổ, 3 gian, 2 trái với 2 cầu thang lên xuống; tổng diện tích sàn trên 250m2, gồm các hạng mục: Am thờ thiết kế kiểu dáng giống Chùa Một Cột (Hà Nội), được đổ bê-tông mặt phẳng, 3 bức tường hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi hài đỏ, chất liệu bằng sứ; sân Đền xây dựng năm 2010, láng xi-măng, dài 13m, rộng 2,5m, từ sân lên Đền 12 bậc; tầng trên đặt tượng Quan Thếm, tầng dưới đặt bát hương thờ thổ địa...; tựa lưng núi, mặt quay hướng Nam, có đôi Rồng đá rất đẹp. Đền được xây dựng trị giá trên 3,73 tỷ đồng theo nguồn vốn xã hội hóa, riêng Công ty TNHH Gia Long - đơn vị chủ động đứng ra tôn tạo di tích - đóng góp 2,9 tỷ. Đây là nơi thờ tự ông Hoàng Vần Thùng, người con của đồng bào Xín Mần đã có công khai thiên, lập đất, tổ chức dân làng làm ăn, chấn giữ biên ải cách đây nhiều thế kỷ... Hàng năm, đồng bào tổ chức tế lễ tưởng nhớ ông Hoàng Vần Thùng, coi như Thần Hoàng làng vào ngày Thìn đầu tiên, của tháng Thìn (tháng 3 âm lịch) với nghi lễ dân gian trang trọng. Ngày 30.11.2011, UBND tỉnh ra Quyết định số 2644/QĐ -UBND công nhận Đền Thần Hoàng là Di tích Lịch sử - văn hoá cấp tỉnh. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Hà Giang.
Tuyên Quang
4749 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh
Cùng với Chùa Bình Lâm và chùa Sùng Khánh, Chùa Nậm Dầu đang dần trở thành một điểm đến khó có thể bỏ qua đối với du khách và phật tử gần xa, đây cũng là một ngôi chùa mang đậm dấu ấn di tích khảo cổ Quốc gia. Chùa Nậm Dầu tọa lạc trên đồi Nậm Dầu, bên dòng sông Lô thuộc thuộc địa phận thôn Nậm Thanh, xã Ngọc Linh, huyện Vị Xuyên. Đã trải qua khoảng 600 năm tồn tại, được xác nhận là có mặt vào thời Trần, khoảng nửa cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV. Qua các đợt khai quật, các nhà khảo cổ học đã phát hiện nhiều di vật tại chùa Nậm Dầu, có những di vật chỉ thấy có mặt tại Hoàng thành Thăng Long, hoặc ở các công trình lớn và quan trọng của triều đình, có những di vật lần đầu tiên phát hiện được ở Việt Nam và ở miền Biên cương vùng núi phía Bắc như: Đầu đao hai mặt tạo nổi hình rồng với kích thước khá lớn, tượng rồng, cá chép, uyên ương,…được trang trí đẹp mắt. Cùng với những di vật, kiến trúc trang trí của ngôi chùa càng khẳng định ý nghĩa và tầm quan trọng có ảnh hưởng lớn với sự phát triển nền phật giáo vùng núi biên cương Hà Giang. Đại đức Thích Đức Chung, Trụ trì chùa Nậm Dầu cho biết: Chùa Nậu Dầu là ngôi Chùa hội tụ đầy đủ các yếu tố về phong thủy và linh khí, Ngôi chùa hiện diện nơi đây đã bỏ đi được nhiều hệ lụy cho người dân, tránh mê tin dị đoan, mọi người được đến chùa lễ phật, tụng kinh. Nghe quý chư tăng, tôn đức giảng giáo lý của Đức Phật, qua đó biết đoàn kết, yêu thương, đùm bọc nhau và hướng đến cái thiện, cùng nhau phát triển kinh tế… Hoàn thành việc trung tu, tôn tạo vào năm 2007. Vẻ đẹp của ngôi chùa mang đậm nét văn hóa thời Trần nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung được tạo nên từ sự hòa quyện giữa giá trị lịch sử, tâm linh và giá trị văn hóa nghệ thuật độc đáo. Ngày nay, chùa Nậm Dầu đóng vai trò quan trọng trong đời sống địa phương đồng thời góp phần vào thực hiện mục tiêu phát triển văn hóa du lịch tâm linh trên địa bàn tỉnh, huyện. Năm 2009 chùa Nậm Dầu được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích cấp Quốc gia. PGS.TS. Dương Văn Sáu, Nguyên Trưởng Khoa Du lịch, Đại học Văn hóa Hà Nội chia sẻ: Các triều đại phong kiến Việt Nam luôn đề cao việc giữ gìn lãnh thổ, trong đó đã biết sử dụng các công cụ về tâm linh, các tôn giáo, tín ngưỡng để bảo vệ lãnh thổ của Tổ Quốc. Hòa quyện với tôn giáo bản địa để cùng phát triển. Có thể nói, đây đã và đang và sẽ trở thành một trong những điểm đến văn hóa tâm linh sáng giá của du lịch Vị Xuyên. Và đây là hướng đi đúng của tỉnh Hà Giang nói chung và huyện Vị Xuyên nói riêng về phát triển du lịch trong thời gian tới… Nằm trong hệ thống chùa cổ của huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, với những giá trị độc đáo, Chùa Nậm Dầu không chỉ tạo nên một vùng di tích đặc sắc, gợi mở cho các thế hệ nhiều điều về lịch sử của một vùng đất biên cương mà còn thu hút đông đảo du khách thập phương đến hành hương, tham quan danh thắng trở thành điểm đến du lịch tâm linh nổi tiếng của Hà Giang. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Hà Giang
Tuyên Quang
4935 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Đền Ngòi Bo nay thuộc xã Thống Nhất, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Hướng trông ra ngã ba sông – nơi giao thủy của suối Ngòi Bo và sông Hồng, ngôi đền là nơi thờ phụng Tản Viên Sơn Thánh – một trong Tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt, “là vị thần linh thiêng bậc nhất của trời Nam”. Theo lời kể của các bậc lão niên, những người quê gốc miền xuôi trong thôn khi đến đây và gắn bó với vùng đất này đã dựng miếu, đền thờ phụng Đức Thánh Tản Viên – vị Thánh được tôn thờ ở khắp vùng trung du và châu thổ Bắc Bộ với niềm tin kiền thành vào sự phù hộ, che chở của Ngài. Sự tín tưởng ấy chính là bệ đỡ, là điểm tựa tinh thần của những người con xa quê trên bước đường tạo dựng cuộc sống ở miền đất mới, đồng thời là sự nhắc nhớ, sự duy trì ký ức về quê hương bản quán, về nguồn cội cha ông. Lễ hội đền Ngòi Bo diễn ra vào ngày 11 tháng Giêng hằng năm. Đền Ngòi Bo được xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp Tỉnh năm 2016 Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Lào Cai.
Lào Cai
2856 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh
Di tích Lịch sử Quốc gia đồn Phố Ràng ở thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên (Lào Cai) là chứng tích đặc biệt, nơi khắc ghi chiến thắng lịch sử hào hùng, oanh liệt của thế hệ cha ông 73 năm về trước (26/6/1949 – 26/6/2022). Theo Lịch sử đảng bộ huyện Bảo Yên (Lào Cai), đồn Phố Ràng được xây dựng trên cao điểm 442, diện tích rộng gần 1 ha; đây là một vị trí chiến lược, có thể khống chế toàn bộ khu vực lòng chảo thị trấn Phố Ràng và các khu vực lân cận. Thế đồn gần như 3 mặt là sông, ở vị trí đồn có thể bao quát, theo dõi toàn bộ các hoạt động ở sông và hai bên bờ. Pháp cho xây dựng một hệ thống công sự vững chắc với nhiều lô cốt, giao thông hào, hàng rào tre vót nhọn ken dày đặc quanh cứ điểm, mìn, vật cản và ụ súng được bố trí xung quanh đồn. Địch còn bố trí 2 trung đội Âu - Phi, 1 đội lính khố đỏ, 1 trung đội lính dù, 1 trung đội lính dõng, các loại vũ khí sẵn sàng đánh trả và cản bước tiến của các nhánh quân ta lên giải phóng vùng Tây Bắc. Ngày 11/06/1999 di tích đồn Phố Ràng được Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể Thao – Du lịch) công nhận là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia, theo Quyết định số 38/QĐ-BVHTT. Nguồn Bộ Văn hóa, Thể Thao – Du lịch.
Lào Cai
3097 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Di tích lịch sử Địa điểm Chiến thắng Đồn Phố Lu nhìn tổng thể xung quanh là núi cao, rừng rậm, vách đá dựng đứng, sông suối sâu. Có 2 cụm lô cốt là cụm gần và cụm xa. Cụm gần có 3 lô cốt: Số 1 đã bị lũ cuốn trôi năm 1971 do sạt lở. Số 2 chất liêu bê tông cáo 4,5m dài 4,5m, rộng 3,7m. Số 3 cách ga Phố Lu 900m. Cụm xa có 2 lô cốt xây trên đỉnh đồi cao khoảng 50 - 70m. Trung tâm đồn là Sở chỉ huy, nay là số nhà 244 đường Lê Hồng Phong. Ngoài ra còn có trại lính và nhiều hầm ngầm bê tông kiên cố, hiện tại chỉ còn 5 hầm. Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Lào Cai.
Lào Cai
3328 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia
Bảo Thắng là một huyện có bề dày về truyền thống cách mạng, có hệ thống di tích lịch sử khá phong phú và mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Ngày 24/7/2007, Khu căn cứ cách mạng Soi Cờ - Soi Giá thuộc xã Gia Phú đã được UBND tỉnh Lào Cai xếp hạng là di tích cấp tỉnh. Đây là một di tích đã tồn tại gần một thế kỷ, là một trong những khu căn cứ cách mạng quan trọng nằm trong vùng hoạt động rộng lớn Cam Đường - Gia Phú - Xuân Giao. Đặc biệt trong giai đoạn 1947 - 1950, Soi Cờ -Soi Giá đã gây dựng được cơ sở cách mạng khá vững chắc, được nhân dân hưởng ứng nhiệt liệt nên phong trào cách mạng dân tộc được đẩy lên cao mạnh mẽ, các đội du kích đã gây nhiều tổn thất cho quân giặc. Vì vậy chúng tổ chức đàn áp dã man giết hại nhiều cơ sở cách mạng của ta nhằm uy hiếp phong trào đấu tranh nơi đây... Khu căn cứ cách mạng Soi Cờ - Soi Giá đã ghi dấu cuộc đấu tranh cách mạng. Là một trong những di tích quan trọng và có giá trị lớn của huyện Bảo Thắng" Nguồn Cổng thông tin điện tử tỉnh Lào Cai.
Lào Cai
3215 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh
Đến Văn Bàn, vào trung tâm thị trấn đã thấy núi Gia Lan hùng vĩ hiện ra trước mắt. Dưới chân núi là thung lũng trải dài, vùng đất trù mật, đông đúc. Núi Gia Lan không chỉ có vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng mà còn nổi tiếng bởi đây là khu căn cứ bí mật của quân và dân Văn Bàn trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Ngày nay, khu căn cứ này đã trở thành khu di tích lịch sử cách mạng mà người dân quen gọi là Khu du kích Pú Gia Lan. Khu du kích Pú Gia Lan được hình thành từ năm 1947 ở khu vực núi Gia Lan, xã Khánh Yên Thượng. Đây là khu căn cứ bí mật trong vùng địch do Huyện uỷ Văn Bàn chỉ đạo xây dựng, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp giải phóng huyện Văn Bàn nói riêng và tỉnh Lào Cai nói chung. Khi thực dân Pháp chiếm đóng Văn Bàn, nhân dân các xã Làng Giàng, Khánh Yên Thượng, Khánh Yên Hạ đã tản cư vào vùng núi này. Dọc theo triền núi suốt từ Làng Giàng đến xã Khánh Yên Hạ chỗ nào cũng có dân tản cư. Khu du kích Gia Lan bao gồm toàn bộ phần đất của xã Làng Giàng, một phần phía nam của các xã: Khánh Yên Thượng, Khánh Yên Hạ, Chiềng Ken. Phía Bắc giáp với xã Nậm Rạng, phía Nam giáp với xã Nậm Tha, phía Tây Bắc giáp với xã Dương Quỳ, phía Tây Nam giáp với xã Nậm Xé - Văn Bàn và một phần của Than Uyên (Lai Châu). Khu du kích Gia Lan là nơi gặp gỡ cán bộ, bộ đội, du kích để họp bàn kế hoạch thực hiện các đợt tập luyện, huấn luyện ngắn, nơi tạo điều kiện cho việc liên lạc từ Lào Cai (ngày trước) đi các vùng ngoài tỉnh. Khu di tích Pú Gia Lan là một điểm di tích cách mạng quan trọng góp phần giáo dục ý thức cách mạng cho các thệ hệ mai sau, đồng thời giữ gìn khu di tích chính là bảo vệ môi trường sinh thái. Ngày 16/11/2006, di tích được Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận là di tích cấp tỉnh. Núi Gia Lan với bức tường thiên tạo đã chứng kiến sự trưởng thành của cách mạng trên vùng quê đậm nét văn hóa dân gian, chứng kiến những thành tựu mà Đảng lãnh đạo nhân dân các dân tộc đánh Pháp, giải phóng quê hương Văn Bàn./. Nguồn : Báo điện tử tỉnh Lào Cai.
Lào Cai
2753 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh
Đền Ken nằm ở xã Chiềng Ken, huyện Văn Bàn từ lâu đã là địa chỉ thu hút nhiều người dân tới vãn cảnh và chiêm bái. Năm 2006, đền Ken được UBND tỉnh Lào Cai xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Từ đó đến nay, huyện Văn Bàn đã và đang triển khai các phương án trùng tu, nâng cấp ngôi đền nhằm thu hút du khách thập phương đến tham quan, chiêm bái. Lễ hội Đền Mẫu Trịnh Tường - Điểm đến du lịch tâm linh Đền Ken tọa lạc trên đỉnh đồi Pù Đình, giữa lòng thôn Ken với khu đất rộng trên 10.000 m2. Đền thờ ông Nguyễn Hoàng Long và các vị tướng lĩnh thuộc nghĩa quân Tây Sơn đã có công đánh đuổi giặc xâm lăng trên quê hương Văn Bàn, giúp nhân dân các dân tộc nơi đây khai khẩn ruộng vườn, bảo vệ bản làng. Hàng năm, cứ vào ngày mùng 7 tháng Giêng, nhân dân lại tổ chức lễ dâng hương để tưởng nhớ đến công lao của ông. Năm 2006, đền Ken chính thức được tôn tạo, xây dựng lại khang trang và được UBND tỉnh Lào Cai xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Cuối năm 2012, UBND tỉnh đã phê duyệt Dự án trùng tu di tích đền Ken để tôn tạo ngôi đền chính khang trang hơn, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân và du khách thập phương hành hương lễ bái. Để gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa tôn nghiêm của dân tộc, UBND huyện Văn Bàn đang lập hồ sơ đề nghị nâng cấp đền Ken thành Di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Đền Ken hiện đang lưu giữ nhiều di tích lịch sử có giá trị văn hoá trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cũng chú trọng tuyên truyền, vận động nhân dân giữ gìn cảnh quan môi trường, lưu giữ và phát triển các làng nghề truyền thống, bản sắc văn hóa vùng miền, tạo điểm nhấn cho du khách khi đến tham quan, trải nghiệm và lễ bái. "Trong thời gian tới, xã mong muốn nhận được sự quan tâm của các cấp các ngành, đặc biệt là Phòng văn hóa thông tin huyện để khơi dậy, gìn giữ những nét văn hóa đặc sắc của các dân tộc, từ đó giúp phát triển văn hóa du lịch tâm linh tại địa phương được tốt hơn", ông Vấn Gia Lâm, Chủ tịch UBND xã Chiềng Ken, huyện Văn Bàn cho biết. Nhờ sự quản lý chặt chẽ của các ban, ngành và chính quyền địa phương nên vấn đề an ninh trật tự, vệ sinh môi trường ở khu vực đền được đảm bảo, giữ được sự tôn nghiêm. Ông La Quốc Lưu, Thủ nhang đền Ken chia sẻ thêm: "Mọi hoạt động trong đền đều phải được Ban quản lý đền cho phép mới được thực hiện, để bảo đảm công tác tổ chức, quản lý cũng như tránh tình trạng buôn thần bán thánh tại khu vực tâm linh của nhà đền". Không chỉ là chốn linh thiêng để du khách đến dâng hương cầu an, đền Ken còn là điểm đến hấp dẫn trong hành trình du lịch tâm linh của nhiều du khách. Nguồn : Văn hóa du lịch tỉnh Lào Cai.
Lào Cai
3372 lượt xem
Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh